Thứ Hai, 7 tháng 11, 2016

CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI TIẾP TỤC SOI SÁNG 
CON ĐƯỜNG CHÚNG TA ĐI

Sau sự kiện Liên Xô tan rã (1991), các thế lực thù địch với chủ nghĩa xã hội (CNXH) càng ra sức xuyên tạc ý nghĩa của Cách mạng Tháng Mười. Họ nói Cách mạng Tháng Mười là một lỗi lầm bi thảm của lịch sử! Có thật như vậy không?
Đương nhiên chúng ta không thể chờ đợi ở họ một thái độ nào khác. Điều đáng quan tâm là, trong số những người yêu mến Cách mạng Tháng Mười đôi khi cũng có một số ý kiến phân vân, thắc mắc: Thực tiễn gần 100 năm qua có chứng minh tính tất yếu lịch sử Cách mạng Tháng Mười không? Có đúng là Cách mạng Tháng Mười đã mở đầu thời đại mới, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản (CNTB) lên CNXH? Do đó, Cách mạng Tháng Mười có tiếp tục soi sáng con đường phát triển cách mạng của loài người hay không?
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng đánh giá: “Giống như mặt trời chói lọi, Cách mạng Tháng Mười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu, hàng triệu người bị áp bức, bóc lột trên Trái Đất. Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế”.
Ngày 7-11-1917, lần đầu tiên, công nhân, nông dân, quần chúng lao động bị áp bức bóc lột, dưới sự lãnh đạo của chính đảng kiểu mới của giai cấp công nhân, đã đứng lên đập tan ách thống trị của bọn địa chủ và tư bản, tự mình nắm lấy chính quyền, tự mình bắt tay xây dựng xã hội mới, xã hội cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn đầu của nó là CNXH. Khác với các cuộc cách mạng tư sản thay thế ách thống trị phong kiến bằng ách thống trị của giai cấp tư sản, Cách mạng Tháng Mười thực hiện sứ mệnh giải phóng quần chúng lao động khỏi mọi chế độ áp bức bóc lột, đưa họ từ thân phận người nô lệ làm thuê lên địa vị người chủ của xã hội.
Với Cách mạng Tháng Mười, lần đầu tiên trong lịch sử, quyền tự quyết của các dân tộc đã được thực hiện trên một phần hành tinh. Cách mạng Tháng Mười đem lại nhà máy cho công nhân, ruộng đất cho nông dân, hòa bình và hữu nghị cho các dân tộc, bình đẳng, tự do, hạnh phúc cho mọi người.
Cách mạng Tháng Mười không chỉ tuyên bố những lý tưởng cao cả mà nó thực sự hành động vì những lợi ích thiết thân nhất, bức xúc nhất của nhân dân. Cuộc khởi nghĩa ở Xanh Pê-téc-bua vừa thành công, chính quyền Xô-viết lập tức ban bố các sắc lệnh về hòa bình và ruộng đất.
Có kẻ vu khống Cách mạng Tháng Mười là say mê bạo lực. Sự thật thế nào? Các giai cấp tư sản, địa chủ không tự nguyện rời bỏ địa vị thống trị, đã điên cuồng dùng bạo lực chống lại nhân dân. Trong điều kiện đó, không có bạo lực cách mạng của quần chúng thì cách mạng không thể thành công. Để bảo vệ thành quả cách mạng, quần chúng công-nông nước Nga đã đáp lại một cách kiên quyết nhất đối với bạo lực phản cách mạng của bọn địa chủ, tư bản và bọn đế quốc can thiệp. Song, Lê-nin và Đảng Bôn-xê-vích chủ trương hạn chế ở mức thấp nhất sự đổ máu, mà nếu tránh được thì tốt nhất. Như mọi người đều biết, khẩu hiệu “Toàn bộ chính quyền về tay các Xô-viết!” là khẩu hiệu của sự phát triển cách mạng một cách hòa bình, sự phát triển đó có khả năng thực hiện vào tháng 4, tháng 5, tháng 6. Cho đến đầu tháng 7-1917, khi chính quyền đã chuyển sang tay bọn độc tài quân phiệt thì khẩu hiệu ấy không còn đúng nữa và Lê-nin thay bằng khẩu hiệu “Chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang!”. Nhưng đến đầu tháng 9-1917, khi có một động thái mới từ phía Đảng Xã hội cách mạng và bọn men-sê-vích, lại xuất hiện khả năng trở lại với khẩu hiệu “Toàn bộ chính quyền về tay các Xô-viết”, nghĩa là trở lại khả năng hòa bình phát triển cách mạng, cái khả năng mà Lê-nin nói là “cực kỳ hiếm hoi trong lịch sử và cực kỳ quý báu”, “cái khả năng đặc biệt hiếm hoi đó” “nếu còn dù chỉ là một phần trăm hy vọng thôi, thì hy vọng đó cũng rất đáng được níu lấy”.
Vậy là, từ mục tiêu cho đến hành động, Cách mạng Tháng Mười thật sự là nhân đạo, văn hóa và văn minh. Không ai có thể bôi nhọ thanh danh của Cách mạng Tháng Mười!
Là sự nghiệp của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, Cách mạng Tháng Mười đã phát huy cao độ chủ nghĩa anh hùng, tinh thần hy sinh, lòng dũng cảm, nghị lực cách mạng phi thường, tài năng sáng tạo của giai cấp công nhân và quần chúng nhân dân trong cuộc đấu tranh giành chính quyền, bảo vệ chính quyền cũng như trong xây dựng xã hội mới. Lần đầu tiên trong lịch sử, những người lao động bị áp bức đứng lên thực hiện vai trò làm chủ xã hội, làm chủ vận mệnh của mình. Đó là giá trị nhân bản lớn nhất, đích thực của Cách mạng Tháng Mười.
Khi nhân dân Nga làm cách mạng vô sản thành công thì Việt Nam đang chìm trong đêm dài nô lệ. Cả đến cái tên Việt Nam cũng biến mất trên bản đồ thế giới. Tình hình đất nước đen tối như không có đường ra!
Với truyền thống yêu nước bất khuất, nhân dân ta không lúc nào ngừng đấu tranh chống đế quốc và tay sai. Song, các phong trào yêu nước theo đường lối phong kiến hoặc theo khuynh hướng tư sản đều thất bại, vì đường lối ấy không đáp ứng được những yêu cầu cơ bản của công, nông chiếm hơn 90% dân số. Đường lối ấy không phù hợp với tình hình đất nước và xu thế của thời đại. Giữa lúc đó, Nguyễn Ái Quốc, người con ưu tú của dân tộc, sau 10 năm bôn ba tìm đường cứu nước đã đến với ánh sáng Chủ nghĩa Mác – Lê-nin, ánh sáng của Cách mạng Tháng Mười. Trong tác phẩm Đường cách mệnh, Người viết: “Cách mệnh Nga dạy cho chúng ta rằng muốn cách mệnh thành công thì phải dân chúng (công nông) làm gốc, phải có đảng vững bền, phải bền gan, phải hy sinh, phải thống nhất. Nói tóm lại là phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lê-nin”. Đọc Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lê-nin, Nguyễn Ái Quốc sớm nắm bắt được cái cốt lõi trong tư tưởng Lê-nin là “Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức, đoàn kết lại!”. Nguyễn Ái Quốc đã đi đến chân lý về con đường giải phóng của Việt Nam, Người nói: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”.Đó là con đường gắn mục tiêu độc lập dân tộc với mục tiêu chủ nghĩa xã hội, gắn cách mạng Việt Nam với xu thế của thời đại. Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam do Người sáng lập đã vận dụng và phát triển sáng tạo những chân lý phổ biến của Chủ nghĩa Mác – Lê-nin, những bài học kinh nghiệm của Cách mạng Tháng Mười vào điều kiện cụ thể nước ta, đưa cách mạng Việt Nam vượt qua muôn trùng thử thách tiến đến thắng lợi ngày nay.
Sự bắt gặp giữa yêu cầu giải phóng dân tộc, giữa chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam với Chủ nghĩa Mác – Lê-nin, học thuyết cách mạng của thời đại, đỉnh cao của tư tưởng xã hội loài người, là cuộc gặp gỡ tự nhiên, tất yếu, thật điển hình. Đó tựa như một “cuộc hẹn gặp lịch sử tuyệt đẹp” (nói như cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng) giữa dân tộc và thời đại, giữa hai trào lưu cách mạng lớn là cách mạng vô sản và cách mạng giải phóng dân tộc. Chủ nghĩa Mác – Lê-nin và những tư tưởng của Cách mạng Tháng Mười- qua Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh-đến với dân tộc Việt Nam tuyệt nhiên không phải cái “chồi ghép” như ai đó cố tình xuyên tạc.
Mặc dù Cách mạng Tháng Mười đã cách chúng ta gần một thế kỷ, song những tư tưởng vĩ đại của nó vẫn là nguồn sáng soi đường cho nhân dân ta giành những thắng lợi mới trên con đường tiến tới mục tiêu cao cả là xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, nhân dân ấm no hạnh phúc, tự mình làm chủ vận mệnh của mình và của đất nước.
Trên thế giới đã có không ít công trình nghiên cứu sự kiện Liên Xô tan rã. Điều đáng nói là, cả những người cộng sản và các học giả, chính khách tư sản đều cho rằng, Liên Xô sụp đổ là điều bất ngờ, còn sự sụp đổ diễn ra dễ dàng như thế thì thậm chí không một ai nghĩ tới!
Trong lịch sử, một chế độ xã hội mới, đang lên, do nhiều nguyên nhân, vẫn có thể lâm vào khủng hoảng. Nhưng về căn bản đây là khủng hoảng của sự phát triển, khủng hoảng của trưởng thành. Loại khủng hoảng này chẳng những không tất yếu dẫn tới sụp đổ, trái lại, nếu được giải quyết đúng đắn, kịp thời, sẽ đưa xã hội mới tiến lên một giai đoạn phát triển cao hơn về chất. Chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô trong nhiều thập kỷ đã khẳng định và được thực tiễn lịch sử khẳng định là một chế độ xã hội giàu sức sống, có tiềm năng vô tận. Song về sau, phương thức xây dựng CNXH đã phạm những sai lầm chủ quan nghiêm trọng, kéo dài làm suy giảm và triệt tiêu động lực phát triển của CNXH là sức sáng tạo của quần chúng nhân dân.
C.Mác, Ph.Ăng-ghen, V.I.Lê-nin kiên quyết bác bỏ quan điểm cho rằng, CNXH là nhất thành bất biến. Không ngừng đổi mới là bản chất của CNXH, là quy luật tồn tại, phát triển, đồng thời là nguyên lý tự bảo vệ của CNXH. Chỉ qua thường xuyên đổi mới đúng đắn, hợp quy luật, CNXH mới chiến thắng được CNTB, đặc biệt trên lĩnh vực quan trọng nhất là năng suất lao động.
C.Mác và Ph.Ăng-ghen từng chỉ rõ: Chủ nghĩa cộng sản không phải là một trạng thái cần phải sáng tạo ra, không phải là một lý tưởng mà hiện thực phải khuôn theo. Ngay sau Cách mạng Tháng Mười, Lê-nin đã nhấn mạnh rằng: “Tính sáng tạo sinh động của quần chúng, đó là nhân tố cơ bản của xã hội mới”và “CNXH không phải là kết quả của những sắc lệnh từ trên ban xuống. Tính chất máy móc hành chính và quan liêu không dung hợp được với tinh thần của CNXH; CNXH sôi động, sáng tạo là sự nghiệp của bản thân quần chúng nhân dân”. Những người xã hội chủ nghĩa thường chưa quán triệt đầy đủ quan điểm mác-xít nói trên.
Chính Lê-nin đã nêu tấm gương ngời sáng nhất về tinh thần đổi mới, sáng tạo trong hoạt động thực tiễn cũng như trong tư duy lý luận. Phẩm chất hết sức nổi bật ở Người là luôn bám sát cuộc sống, một ly cũng không xa rời thực tiễn.
Sau khi Lê-nin mất, những tư tưởng cách mạng và khoa học của Người tiếp tục được vận dụng trong sự nghiệp xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, đưa đến những thành tựu không thể phủ nhận. Song, những biểu hiện của tư duy giáo điều, xơ cứng, không phù hợp với tinh thần biện chứng của CNXH cũng xuất hiện và ngày càng chi phối đường lối, phương thức xây dựng xã hội chủ nghĩa. Những biện pháp, cơ chế quản lý tập trung cao đã phát huy tác dụng trong điều kiện phải gấp rút công nghiệp hóa, trong chiến tranh giữ nước, trong khôi phục kinh tế sau chiến tranh, nhưng từ những năm 50 của thế kỷ 20, dần dà trở thành cơ chế kìm hãm đối với sự phát triển. CNXH cần cơ chế mới năng động, đáp ứng đòi hỏi bức bách của cuộc cách mạng khoa học-kỹ thuật đang diễn ra trên thế giới. Khi cơ chế cũ ngày càng tỏ ra không phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế, biểu hiện ở sự trì trệ kéo dài thì vấn đề đặt ra là, vì lợi ích của CNXH, nhất thiết phải đổi mới, cải cách, cải tổ. Khủng hoảng đã diễn ra thì đòi hỏi cải tổ càng bức bách.
Nhưng cải tổ thế nào? Nhằm mục tiêu xã hội chủ nghĩa hay tư bản chủ nghĩa? Kiên trì Chủ nghĩa Mác – Lê-nin hay chuyển sang hệ tư tưởng tư sản? Giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản hay xóa bỏ nó? Giữ vững độc lập dân tộc hay lệ thuộc vào phương Tây? Vận mệnh của chủ nghĩa xã hội phụ thuộc vào câu trả lời đối với các câu hỏi ấy. Hay nói cách khác, với câu hỏi khái quát hơn: Có kiên quyết đổi mới hay không và đổi mới như thế nào, theo con đường nào? Đó là vấn đề có ý nghĩa sống còn đối với sự nghiệp cách mạng.
Đảng ta chủ trương kiên quyết đổi mới nhưng đổi mới có nguyên tắc. Đổi mới không có nghĩa là từ bỏ chủ nghĩa xã hội mà cốt để đi tới những mục tiêu của CNXH với những bước đi, hình thức, phương pháp thích hợp, đúng đắn và có hiệu quả hơn. Để cải cách, đổi mới thành công vì lợi ích của nhân dân, của Tổ quốc xã hội chủ nghĩa thì tiền đề và điều kiện tiên quyết là phải giữ vững ổn định chính trị, giữ vững trận địa tư tưởng của CNXH, giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, củng cố chính quyền nhân dân, phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.
Cách mạng phải luôn luôn biết tự bảo vệ. Nguyên lý này càng đặc biệt quan trọng trong những thời điểm bước ngoặt của lịch sử. Rõ ràng là không tự đổi mới thường xuyên và đúng quy luật thì CNXH không thể tự bảo vệ có hiệu quả. Ngược lại, nếu cách mạng không biết tự bảo vệ, không kiên định trên những nguyên tắc cách mạng, không giữ vững thành quả cách mạng mà nhân dân đã giành được với biết bao mồ hôi và xương máu; nếu từ đội tiên phong đến các cấp chính quyền và tổ chức quần chúng bị rã rời, mất sức chiến đấu, thúc thủ và bất lực trước sức tấn công của kẻ thù thì sẽ chẳng còn gì để đổi mới, cải cách, cải tổ!
Cách mạng tự bảo vệ, trước hết có nghĩa là Đảng phải biết tự bảo vệ về chính trị, tư tưởng và tổ chức, kiên quyết làm thất bại mưu toan “diễn biến hòa bình” của kẻ thù, trước hết là về mặt hệ tư tưởng. Kinh nghiệm Liên Xô cuối những năm 80 của thế kỷ trước cho thấy, một khi hệ tư tưởng đã tan rã thì dẫu còn tồn tại, Đảng cũng chỉ như cái xác không hồn. Để bảo vệ CNXH, bảo vệ Đảng thì vấn đề căn bản nhất, sâu xa nhất, vấn đề của mọi vấn đề là Đảng phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn trên những nguyên tắc thật sự mác-xít – Lê-nin-nít, phải kiên quyết chống tha hóa biến chất, chống quan liêu, tham nhũng dưới mọi hình thức, ở tất cả các cấp. Chỉ một đảng thật sự trong sạch-trong sạch cả về phẩm chất đạo đức, cả về tổ chức và hệ tư tưởng-mới có thể trở thành một đảng vững mạnh, một đảng sáng suốt, không chệch hướng về chính trị, một đảng có khả năng gắn bó máu thịt với nhân dân, được nhân dân tin yêu, một đảng duy nhất có khả năng đưa nhân dân và dân tộc vượt qua mọi nguy cơ thử thách để tiến lên. Đó là bài học xương máu của cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Hướng tới Ngày kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười, toàn Đảng, toàn dân ta càng tin tưởng vững chắc vào Chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, vào con đường đổi mới tiến lên CNXH. Để thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, chúng ta phải tiếp tục kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược: Xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc, trong đó nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ là xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của CNXH thông qua công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.


                                                                                                                        CÔNG BẰNG

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét