QUAN ĐIỂM ĐẠI HỘI XIV CỦA ĐẢNG VỀ “TỰ CHỦ CHIẾN LƯỢC”
Nhân
Trần
Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng là sự kiện chính trị trọng đại mở đầu kỷ
nguyên phát triển mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam. Điểm nổi bật
trong chủ đề và xuyên suốt Văn kiện Đại hội là lần đầu tiên Đảng xác định tư
duy “tự chủ chiến lược” gắn với tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc trở
thành triết lý phát triển đất nước; không những định hướng nhận
thức mà còn là phương châm hành động trong bối cảnh thế giới, khu vực biến động nhanh chóng và khó lường. “Tự
chủ chiến lược” có thể hiểu là sự kế thừa,
phát triển, nâng lên tầm cao hơn độc lập, tự chủ truyền thống trong điều kiện mới để kiến tạo vị thế, định hình không gian và động lực
phát triển, xác lập tương lai của đất nước; là năng lực chủ động thiết kế, kiến
tạo vận mệnh quốc gia nhằm hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước giàu mạnh,
phồn vinh, văn minh, hạnh phúc trong kỷ nguyên mới. Đây là nội dung mới, tư duy
mới, cốt lõi, xuyên suốt trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV
cũng như đường lối lãnh đạo đất nước trong kỷ nguyên mới, thể hiện trí tuệ, tầm nhìn chiến lược của
Đảng. Tư duy đó được hình thành như một bước phát triển tất yếu
bắt nguồn từ yêu cầu khách quan của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; kế thừa
nền tảng ý chí độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường xuyên suốt lịch sử dân tộc; dựa
trên cơ sở lý luận vững chắc của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đồng
thời, được bổ sung, phát triển, nâng lên tầm cao mới qua thực tiễn đổi mới đất
nước và hội nhập quốc tế phù hợp với xu thế phát triển của thời đại.
Cơ sở
lý luận của tư duy tự chủ chiến lược là quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh về độc lập, tự chủ. Chủ nghĩa
Mác - Lênin đã khẳng định mọi quốc gia, dân tộc đều có quyền độc lập, tự
chủ, tự quyết định vận mệnh và con đường phát triển của mình. “Quyền dân tộc tự
quyết hoàn toàn có nghĩa là các dân tộc có quyền độc lập về chính trị, có quyền
tự do phân lập về mặt chính trị khỏi dân tộc áp bức họ”[1]. Phát
triển tinh thần đó, ngay từ những
năm tháng bôn ba tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc đã sớm nhận ra con đường
giành độc lập thật sự cho dân tộc không thể là sự cầu viện, trông chờ hay ỷ lại
bên ngoài mà phải thực hiện bằng ý chí tự lực, tự chủ của dân tộc. “Muốn người
ta giúp cho, trước hết ta phải tự giúp lấy mình”[2]. Tư tưởng phải đem
sức ta để giải phóng cho ta có sự phát triển khi Người tiếp cận với chủ nghĩa
Mác - Lênin và thể hiện nhất quán trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng sau
này. Khi đọc Bản Tuyên ngôn độc lập, Người đã long trọng tuyên bố: “Nước Việt
Nam có quyền hưởng tự do và độc lập và sự thật đã trở thành một nước tự do, độc
lập”[3]. Người cho rằng:
“Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì
không xứng đáng được độc lập”[4]. Độc lập theo Người
không chỉ là độc lập về hình thức chính trị mà còn phải độc lập thực chất trong
tư duy, đường lối, chính sách và hành động. Độc lập và tự chủ là hai phạm trù
thống nhất; trong đó độc lập là điều kiện để có tự chủ; tự chủ là biểu hiện cụ
thể, sống động của độc lập. Tự chủ không đồng nghĩa với khép kín, cô lập; ngược
lại, đó là điều kiện để chủ động mở cửa, hội nhập trên thế chủ động, bình đẳng,
cùng có lợi. Tư tưởng này chính là nền tảng, hạt nhân của tư duy “tự chủ chiến
lược”, kết hợp giữa độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường của dân tộc với sức mạnh
thời đại.
Cơ sở thực tiễn là tinh thần độc lập, tự chủ
xuyên suốt lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc được Đảng kế thừa, phát
triển, nâng lên tầm cao hơn, chủ động hơn trong kỷ nguyên mới. Lịch sử dân tộc Việt Nam đã khẳng định
tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường là ngọn lửa nuôi dưỡng ý chí quật
cường, bất khuất của dân tộc, luôn tỏa sáng trong những trang sử chống ngoại
xâm hào hùng và trong đường lối, nghệ thuật trị quốc; nhờ đó mà cha ông ta đã
giữ vững giang sơn, xã tắc, khẳng định bản lĩnh kiên cường, khí phách hiên
ngang. Kế thừa và phát huy truyền thống quý báu đó, trong suốt tiến
trình cách mạng Việt Nam, Đảng khẳng định độc lập dân tộc gắn liền với chủ
nghĩa xã hội không những là mục tiêu, lý tưởng cách mạng mà
còn là nguyên tắc chiến lược, phương châm chỉ đạo nhất quán và tiêu chí để hoạch
định đường lối lãnh đạo đất nước. Gần một thế kỷ lãnh đạo cách mạng, Đảng luôn
kiên định, không ngừng bổ sung, phát triển đường lối độc lập, tự chủ; thể hiện bản lĩnh, trí tuệ, tầm nhìn chiến
lược trong việc kết hợp hài hòa giữa truyền thống dân tộc với xu thế của thời đại.
Do đó, dân tộc ta đã làm nên những chiến công vĩ đại, giành lại độc lập, thống
nhất đất nước, đổi mới xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã
hội chủ nghĩa. Độc lập, tự chủ trở thành nguồn sức mạnh nội sinh giúp đất nước vững vàng trước
những biến động của thời cuộc.
Bước vào kỷ
nguyên phát triển mới, thời điểm lịch sử mà khát vọng về một
Việt Nam hùng cường, thịnh vượng đang hội tụ đủ điều kiện để trở thành hiện thực.
Bối cảnh mới với thời cơ và thách thức đan xen đòi hỏi Đảng ta phải đổi mới tư
duy lý luận, xác định tầm nhìn chiến lược mới. Trong đó, đường lối độc lập, tự chủ cần phải được
nâng lên tầm cao mới, chuyển thành tư duy “tự chủ chiến lược” để chủ động định
vị, kiến tạo tương lai, vận mệnh quốc gia nhằm “hiện thực hoá
tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao”[5]. Với ý nghĩa đó, chủ đề Đại hội XIV của Đảng
xác định: “Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, chung sức, đồng lòng thực hiện thắng lợi
các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030; tự chủ chiến lược, tự cường, tự
tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, vì hòa bình, độc lập, dân
chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội”[6]; đồng thời, mục tiêu, quan điểm phát triển
đất nước trong kỷ nguyên mới cũng nhấn mạnh phải khơi dậy ý chí “tự chủ chiến lược”, biến ý chí đó
thành khát vọng, động lực cho sự phát triển mạnh mẽ của đất nước.
Nội hàm “tự chủ chiến lược” được Đảng xác định
ở tư duy chủ động, năng lực hoạch định đường lối để dẫn dắt, kiến tạo sự ổn định,
phát triển bền vững trên tất các lĩnh vực. Tự chủ chiến
lược là cấp độ phát triển cao của độc lập, tự chủ; là năng lực tổng hợp phản
ánh sức mạnh nội sinh, bản lĩnh chính trị, năng lực quản trị sáng tạo trong quá
trình phát triển. Trong đó, “tự chủ chiến
lược” về chính trị là nền tảng giữ vai trò quyết định. Đó là năng lực độc lập trong tư duy và hành động của cả hệ thống
chính trị để hoạch định đường lối, chiến lược và thực thi đường lối, chính sách
bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc, không bị lệ thuộc bên ngoài. “Tự chủ chiến
lược” về chính trị sẽ tạo ra thể chế hoạt động và hiện nay hoàn thiện thể chế
là khâu “đột phá của đột phá”; tinh thần cốt lõi là loại bỏ tư duy “không quản
được thì cấm” và cơ chế “xin - cho” là rào cản phát triển; thay vào đó là tư
duy kiến, mở đường, chuyển mạnh từ quản lý sang quản trị phát triển. Tiếp
tục cuộc cách mạng sắp xếp lại tổ chức bộ máy hệ thống chính trị - “sắp xếp lại
giang sơn” là bước đi “tự chủ chiến lược” mang tính lịch sử, kiến tạo sự phát
triển trong kỷ nguyên mới. “Tự
chủ chiến lược” về kinh tế là trụ cột vật chất và đó là năng lực hoạch định
đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện đại; coi trọng phát triển kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn,
thân thiện với môi trường sinh thái; “tạo
nền tảng vững chắc cho mục tiêu tăng trưởng từ 10% trở lên từ năm 2026 và các
năm tiếp theo”[7]. “Tự chủ chiến lược” về văn hóa là nguồn
lực mềm, sức mạnh nội sinh bởi một dân tộc tự tin về văn hóa mới có bản lĩnh độc
lập trong tư duy và hành động. Việt Nam xây dựng
nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc “đồng bộ trên nền tảng hệ giá trị
quốc gia, hệ giá trị văn hoá, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt
Nam”[8]. “Tự chủ chiến lược” về khoa học - công nghệ
là động lực để Việt Nam khẳng định và nâng tầm vị thế đất nước trong kỷ nguyên
số, quyết tâm làm chủ tri thức, đẩy mạnh nghiên cứu, phát triển công nghệ lõi,
công nghiệp nền tảng, hạ tầng số, dữ liệu số, trí tuệ nhân tạo, tạo sức mạnh nội
sinh để phát triển bền vững. “Tự chủ
chiến lược” về quốc phòng, an ninh là nguyên tắc chiến lược, điều kiện
tiên quyết để “bảo đảm và bảo vệ cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc, kiên quyết,
kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của
Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa…”[9]. Theo tinh thần Đại hội XIV đó còn là “tăng cường quốc phòng toàn
dân, phòng thủ chủ động, ngăn ngừa, đẩy lùi từ sớm các nhân tố gây mất ổn định
chính trị từ bên trong”[10];
dự báo, ứng phó hiệu quả với các nguy cơ, thách thức từ bên ngoài, bảo vệ Tổ quốc
từ sớm, từ xa. “Tự chủ chiến lược” về đối ngoại để
tiên phong kiến tạo môi trường hòa bình, “thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại
độc lập, tự chủ, tự cường, hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển … tương xứng
với tầm vóc lịch sử, văn hoá và vị thế của đất nước”[11] để “bảo đảm
và bảo vệ cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản
của luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc, hợp tác bình đẳng, cùng có
lợi”[12]./.
[1]
V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb CTQGST, Hà Nội,
2005, Tập 27, tr.327.
[2] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb
CTQGST, Hà Nội, 2011, Tập 5, tr.285.
[3] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb
CTQGST, Hà Nội, 2011, Tập 4, tr.3.
[4] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb
CTQGST, Hà Nội, 2011, Tập 7, tr.445.
[5] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập I, Nxb CTQGST, Hà Nội, 2026, tr.84.
[6] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập I, Sđd, tr.44.
[7] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Sđd, Tập I, tr.47.
[8] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Sđd, Tập I, tr.97.
[9] Đảng Cộng sản Việt
Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ XIV, Tập I, Sđd, tr.113.
[10] Đảng Cộng sản Việt
Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ XIV, Tập I, Sđd, tr.113, tr.113.
[11]
Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV,
Sđd, Tập I, tr.117.
[12]
Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV,
Sđd, Tập I, tr.117.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét