Thứ Tư, 19 tháng 9, 2018


TÁC ĐỘNG CỦA ĐIỀU CHỈNH, CẠNH TRANH CHIẾN LƯỢC
NƯỚC LỚN Ở KHU VỰC CHÂU Á - THÁI BÌNH DƯƠNG ĐẾN
SỰ NGHIỆP BẢO VỆ TỔ QUỐC VIỆT NAM XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
       
1. Một số vấn đề chung
          Điều chỉnh, cạnh tranh chiến lược là việc các nước thay đổi đường lối, chính sách đối nội, đối ngoại; phát huy thế mạnh, khai thác sở trường, lợi thế so sánh để tìm kiếm và đan xen lợi ích từ bên ngoài; xác lập vị thế vượt trội của quốc gia trên các diễn đàn quốc tế và khu vực; hướng lái các quốc gia khác, các khu vực đi theo quỹ đạo riêng phục vụ lợi ích của mình.
Bao gồm điều chỉnh, cạnh tranh một cách “công khai, phía trước”, dễ nhận biết. Nhưng trên thực tế, các nước lớn điều chỉnh chiến lược không chỉ đơn thuần như vậy mà bao hàm cả sự “điều chỉnh ngầm”, thỏa hiệp, cạnh tranh, kiềm chế lẫn nhau và tiến hành “mặc cả, đổi chác sau lưng”, khó nhận diện; đúng như Văn kiện đại hội XII của Đảng nhận định “các nước lớn điều chỉnh chiến lược, vừa hợp tác, vừa thỏa hiệp, vừa cạnh tranh, đấu tranh, kiềm chế lẫn nhau”[1]. 
          Nguyên nhân: Xuất phát từ xu thế tuyệt đối hóa lợi ích trong quan hệ quốc tế. Trong quá trình điều chỉnh, cạnh tranh chiến lược, để tồn tại và phát triển, tất cả các quốc gia, dân tộc đều phải coi trọng và bảo vệ lợi ích quốc gia mình theo nhận thức chung “chỉ có lợi ích quốc gia dân tộc là vĩnh viễn”. Từ vị trí của khu vực châu Á - Thái Bình Dương là một trung tâm phát triển năng động nhất thế giới, đang nổi lên mạnh mẽ, trở thành một trong những động lực chủ yếu cho sự phát triển của thế giới. Khu vực này có vị trí địa kinh tế - chính trị - quân sự chiến lược ngày càng quan trọng trên thế giới nhưng đồng thời, đây cũng là trọng tâm của sự cạnh tranh chiến lược gay gắt của các nước lớn trong thế kỷ XXI. Sự điều chỉnh chiến lược, chính sách, tranh giành quyền lực giữa các nước lớn đã làm cho tình hình khu vực luôn ẩn chứa những nhân tố bất ổn và sự biến động khó lường.
        Bối cảnh đó đã đặt các quốc gia, trong đó có Việt Nam trước những cơ hội và thách thức mới trong mối quan hệ đan cài, đa dạng, phức tạp, nhiều cấp độ, nhiều tầng nấc với các nước lớn, các trung tâm quyền lực, các cực của thế giới đa cực. Đồng thời, sự điều chỉnh chiến lược của nước lớn ở khu vực đã và đang có những tác động sâu sắc, đa chiều, cả tích cực lẫn tiêu cực đến quốc phòng, an ninh; đặt sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trước những thời cơ và thách thức mới.
          2. Tác động tích cực
          Thứ nhất, điều chỉnh, cạnh tranh chiến lược của nước lớn ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương gia tăng vai trò, vị thế chính trị của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới. Sự điều chỉnh của các nước lớn không ngoài mục đích nhằm xác lập vị thế “vượt trội” và “tiếng nói” quyết định đối với khu vực. Trong sự tác động của điều chỉnh, cạnh tranh đa chiều đó, vị thế của Việt Nam trong bàn cờ chính trị khu vực đang từng bước được nâng cao, là nhân tố mà các nước không thể không tính đến trong chiến lược, chính sách của mình. Với vị trí địa - chính trị, địa - kinh tế chiến lược quan trọng, lại nằm trên các trục giao thông đường biển, đường bộ, đường hàng không huyết mạch của khu vực và quốc tế, là “cửa ngõ” để vươn ra các đại dương; là “đầu cầu” để tiến vào lục địa,... Việt Nam vừa giữ vị trí trung tâm của các hoạt động kinh tế - thương mại, vừa nắm vị trí then chốt trong phòng thủ ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương nói chung và Đông Nam Á nói riêng. Việt Nam còn là “cầu nối” giữa các nước, là đầu mối quan trọng của các hợp tác và liên kết trong khu vực. Từ bước khởi đầu tham gia “sân chơi” hội nhập quốc tế, đến nay Việt Nam đã chủ động tham gia một cách tích cực, đóng vai trò là một trong những nhân tố dẫn dắt, định hướng cho việc xác lập các cơ chế hợp tác trong khu vực. Đồng thời, với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, liên tục, bền vững; chính trị - xã hội ổn định; thị trường năng động, hấp dẫn; cơ chế, thủ tục thông thoáng... vai trò và vị thế của Việt Nam ngày càng được khẳng định trong khu vực. Với tư cách một quốc gia có trách nhiệm, một thành viên tích cực, đáng tin cậy trong khu vực và trên trường quốc tế; Việt Nam luôn chiếm được cảm tình, dành được sự quan tâm của nhiều nước lớn. Tuy nhiên, để củng cố vị thế này, đòi hỏi Việt Nam phải có cơ chế, chính sách khôn khéo, linh hoạt; một mặt thoát khỏi thế bị lôi kéo, ràng buộc, không bị lệ thuộc vào bất kỳ nước nào; mặt khác phải tận dụng cả lực kéo và lực đẩy từ sự điều chỉnh, cạnh tranh của các nước lớn để nâng cao giá trị và vị thế chiến lược của mình. Vị thế chính trị của đất nước tăng lên là cơ hội lớn, tạo ra điều kiện thuận lợi rất cơ bản cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.   
          Thứ hai, điều chỉnh, cạnh tranh chiến lược của nước lớn ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương tạo thuận lợi cho Việt Nam thực hiện đường lối đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa; qua đó, củng cố quốc phòng, an ninh, tăng cường sức mạnh xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Điều chỉnh chiến lược và tranh giành quyền lực trong khu vực càng gay gắt thì càng có nhiều quốc gia coi trọng và rất muốn đẩy mạnh mức độ gắn kết, hợp tác với Việt Nam, một quốc gia ASEAN có vị thế địa - chiến lược quan trọng. Đây được coi như nguồn “tài nguyên” quý vốn có; không những gia tăng vị thế chính trị của đất nước mà còn cho phép chúng ta đặt ra các điều kiện với đối tác để bảo vệ lợi ích quốc gia dân tộc trên tinh thần đôi bên cùng có lợi. Ngược lại, cũng chính điều này tạo ra thời cơ để Việt Nam phát triển quan hệ hợp tác trên tất cả các lĩnh vực với các nước. Do có một số tương đồng về quan điểm, “tầm nhìn” và lợi ích chiến lược với các nước lớn; cộng với luôn nhất quán quan điểm là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Đây là tiền đề quan trọng, là điều kiện thuận lợi để thúc đẩy quan hệ đối tác với các nước trong khu vực và trên thế giới lên tầm cao mới và đi vào thực chất. Khi quan hệ đối ngoại được mở rộng, không những phát huy được nội lực mà còn tranh thủ mọi nhân tố có lợi từ bên ngoài; mặt khác, đây chính là đối sách tập hợp lực lượng, huy động và kết hợp chặt chẽ sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế, sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Cũng trong quá trình này, chúng ta đẩy mạnh hợp tác về quốc phòng, an ninh với các nước lớn có tiềm lực quân sự mạnh, có nền công nghiệp quốc phòng phát triển; tạo điều kiện cho việc tăng cường vũ khí trang bị, huấn luyện chiến đấu, học hỏi kinh nghiệm để xây dựng quân đội nhân dân “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”, bảo đảm đủ sức mạnh bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong mọi tình huống.
          3. Tác động tiêu cực
        Thứ nhất, điều chỉnh, cạnh tranh chiến lược của nước lớn ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương, bên cạnh những tác động tích cực, thì mặt trái của nó đang làm phức tạp hóa và gây khó khăn cho Việt Nam trong quan hệ quốc tế. Khi tiến hành điều chỉnh chiến lược, chính sách; các nước lớn tăng sẽ tăng cường lôi kéo, chế ngự nước khác, gia tăng vùng ảnh hưởng. Cùng với quá trình đó, xuất hiện sự “trỗi dậy” của các cường quốc mới nổi trong khu vực. Vấn đề này sẽ gây ra nhiều hệ lụy đối với Việt Nam là điều khó tránh khỏi. Thêm vào đó, các nước lớn gây sức ép, bao gồm việc hạn chế không gian tự chủ hành động và tranh, dành phần lớn hơn, nhiều hơn trong việc theo đuổi các lợi ích quốc gia, cả trong quan hệ song phương và đa phương. Đồng thời, sự điều chỉnh chiến lược, cạnh tranh quyền lực, xác lập ưu thế giữa các nước lớn ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương không những bị chi phối bởi chủ nghĩa dân tộc nước lớn, tư duy bá quyền mà còn bị tác động bởi đấu tranh ý thức hệ chính trị - tư tưởng giai cấp. Điều này càng làm tăng thêm sự phức tạp cũng như tính nhạy cảm trong quan hệ ứng xử của ta đối với các nước lớn. Để có chính sách thích ứng; mở rộng, củng cố và ổn định quan hệ; “điều hòa lợi ích” với các nước, phát huy sức mạnh tổng hợp trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là một thách thức lớn trực tiếp đối với Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
          Thứ hai, điều chỉnh, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương có thể đẩy Việt Nam vào thế bị xâm phạm lợi ích nghiêm trọng. Trong cục diện khu vực có sự điều chỉnh, cạnh tranh chiến lược gay gắt giữa các nước lớn; Việt Nam luôn phải cảnh giác với âm mưu thỏa hiệp, chính sách “đi đêm” của nước lớn gây phương hại đến lợi ích quốc gia; nhất là ý đồ xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ. Cùng với thủ đoạn của chiến lược “diễn biến hoà bình”; âm mưu lấn chiếm, thôn tính lãnh thổ, xâm phạm chủ quyền biển, đảo sẽ là hai nguy cơ trực tiếp, song hành đối với Việt Nam. Hơn nữa, ngay trong nội hàm của điều chỉnh chiến lược đã hàm chứa cả việc nước lớn sẵn sàng thỏa hiệp, đổi chác với nhau hoặc nước lớn chấp nhận bỏ qua một vài lợi ích không căn bản của mình để xâm phạm nước nhỏ. Với việc các nước lớn “vươn tầm ảnh hưởng”, tăng cường khuất phục, làm cho các nước nhỏ trước mắt thì bị động, bất ngờ; sau đó thì lệ thuộc vào nước lớn và dần trở thành “vệ tinh”, khu “sân sau”, “vùng đệm”. Khi nước lớn “điều chỉnh ngầm”, tiến hành “mặc cả” để đổi chác, thỏa hiệp với nhau “trên lưng nước nhỏ” sẽ đẩy nước nhỏ vào tình thế bị xâm phạm lợi ích căn bản; bị rơi vào thế “kẹt” trong “ván cờ chính trị nước lớn”. Thậm chí, không loại trừ khả năng nước nhỏ không tự quyết định được lợi ích tối cao là vận mệnh quốc gia, dân tộc mình. Các cuộc khủng hoảng chính trị ở một số khu vực trên thế giới thời gian gần đây đã khẳng định trong nhiều trường hợp, sinh mệnh chính trị, lợi ích cốt lõi của nước nhỏ nằm trong tay nước lớn, phụ thuộc vào mối quan hệ giữa các nước lớn. Tất nhiên, diễn biến và kết quả của tình huống này như thế nào; nó có xảy ra hay không còn tùy thuộc vào bản lĩnh, nghệ thuật ứng xử của Việt Nam. Điều quan trọng là chúng ta cần khéo duy trì quan hệ cân bằng với tất cả các bên liên quan, đồng thời tăng cường sức mạnh nội tại có thể để đương đầu với các mối đe dọa.
          4. Đối sách của Việt Nam
          Quan điểm chung: Thực hiện kiên định về nguyên tắc chiến lược; linh hoạt, sáng tạo về sách lược; tranh thủ mọi tác động tích cực, hạn chế thấp nhất những tác động tiêu cực, mặt trái của điều chỉnh chiến lược nước lớn ở khu vực đối với sự nghiệp cách mạng. Tăng cường công tác nghiên cứu, dự báo, đánh giá chính xác cục diện, sự dịch chuyển quyền lực tại khu vực và những diễn biến mới của tình hình; xác định đúng vị trí của quốc gia trên “bàn cờ chính trị” khu vực và thế giới. Giữ vững tính độc lập, tự chủ trong hoạch định đường lối, chính sách; khéo tìm đúng “lối đi”, “cửa thoát”, tận dụng cả lực kéo - đẩy, tác động thuận - nghịch của quá trình điều chỉnh, cạnh tranh chiến lược giữa nước lớn để nâng cao giá trị chiến lược của đất nước; luôn “trụ vững” trong thế cạnh tranh, lôi kéo, “giằng co” giữa các nước trong khu vực. Từ quan điểm chỉ đạo chung, linh hoạt, sắc bén đề ra đối sách cụ thể:
          Một là, xác định đúng đối tác, đối tượng của cách mạng Việt Nam. Trong xu thế tuyệt đối hóa lợi ích, các nước lớn điều chỉnh chiến lược, đan xen hợp tác - đấu tranh, cạnh tranh - kiềm chế lẫn nhau tại khu vực; quan niệm về bạn - thù của các nước có sự thay đổi; Việt Nam đã chủ động điều chỉnh từ “nguyên tắc” xác định bạn - thù dựa trên ý thức hệ chính trị - giai cấp sang “quan điểm” xác định đối tác - đối tượng của cách mạng trên cơ sở nhấn mạnh lợi ích quốc gia, dân tộc; bảo đảm tính phù hợp hơn, linh hoạt hơn. Tư duy mới của Đảng ta khẳng định những ai tôn trọng độc lập, chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với Việt Nam đều là đối tác của chúng ta. Ngược lại, bất kể thế lực nào có âm mưu và hành động chống phá mục tiêu của nước ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều là đối tượng đấu tranh. Tuy nhiên, trong tình hình hiện nay, phải có quan điểm khoa học, biện chứng, linh hoạt. Trong mỗi đối tượng vẫn có thể có mặt cần tranh thủ hợp tác; trái lại, trong một số đối tác vẫn có thể có mặt khác biệt, mâu thuẫn với lợi ích của ta cần đấu tranh. Nghĩa là, trong đối tác có đối tượng, trong đối tượng có đối tác; không có đối tác, đối tượng một cách thuần túy. Vì vậy, trong từng thời điểm cụ thể, cần căn cứ vào chiến lược, sự điều chỉnh chiến lược, âm mưu, thủ đoạn, hành động hiện thời của nước khác đối với Việt Nam để nhận thức rõ ai là đối tác, ai là đối tượng. Tránh mơ hồ, võ đoán, nhìn nhận phiến diện, một chiều, lẫn lộn, đồng nhất hay tuyệt đối hóa đối tác và đối tượng. Đây là vấn đề quan trọng hàng đầu của quốc phòng, an ninh; là cơ sở hoạch định đường lối, chính sách đối nội, đối ngoại đúng đắn để tranh thủ khai thác, phát huy mặt tích cực dưới góc độ đối tác để phát triển đất nước; hạn chế, khắc phục mặt tiêu cực của đối tượng; không để đối tác chuyển hóa thành đối tượng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
       Hai là, phát triển công tác đối ngoại, tăng cường sức mạnh tổng hợp của đất nước. Trên cơ sở nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa; tích cực, chủ động hội nhập quốc tế; để thích ứng với cục diện mới trong khu vực; Việt Nam thực hiện chính sách “ngoại giao cân bằng”, đan xen quan hệ với các nước lớn, không lệ thuộc vào bất kỳ nước nào; linh hoạt, mềm dẻo trong các ứng xử cụ thể theo đúng phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Tích cực đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn “quan hệ với các đối tác, nhất là các đối tác chiến lược và các nước lớn có vai trò quan trọng đối với phát triển và an ninh của đất nước, đưa khuôn khổ quan hệ đã xác lập vào thực chất”[2]. Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức với 186 trong tổng số 193 quốc gia thành viên của Liên hợp quốc; quan hệ kinh tế thương mại với 230 quốc gia và vùng lãnh thổ; là thành viên tích cực của trên 70 tổ chức, diễn đàn quốc tế và khu vực. Tiến hành nâng cấp quan hệ đối tác với các nước lớn (Tháng 9/2016 nâng quan hệ với Ấn Độ lên đối tác chiến lược toàn diện; tháng 11/2017 kí kết đối tác toàn diện với Canada; tháng 03/2018 nâng quan hệ với Úc lên đối tác chiến lược...) tạo thế cài xen, cân bằng các tác động. Tích cực tham gia tiến trình hội nhập quốc tế ở mức sâu rộng hơn; trước hết là trong khối ASEAN, tham dự sâu vào diễn đàn kinh tế khu vực châu Á - Thái Bình Dương (APEC); kí kết hiệp định thương mại toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP).  Đẩy mạnh đối ngoại quốc phòng, “tích cực tham gia cơ chế đa phương về quốc phòng, an ninh trong đó có việc tham gia các hoạt động hợp tác ở mức cao hơn như hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, diễn tập về an ninh phi truyền thống và các hoạt động khác”[3]. Chủ động đề xuất, định hình cơ chế hợp tác ADMM+, diễn đàn an ninh khu vực (ARF)... Thực hiện “thêm bạn, bớt thù”, vừa tranh thủ được nguồn lực và sức mạnh tổng hợp, vừa nâng cao vị thế, uy tín, tiềm lực của đất nước.                
          Ba là, đẩy mạnh đan xen lợi ích với các nước; ngăn ngừa xung đột quân sự, hạn chế nguy cơ chiến tranh. Chủ động đan xen lợi ích một cách sâu rộng với các đối tác, nhất là với các nước lớn để giữ được “thế cân bằng” và bảo đảm cho đất nước luôn đứng vững trước các tác động lôi kéo của điều chỉnh, cạnh tranh chiến lược nước lớn ở khu vực. Thông qua đan xen lợi ích với các nước trong khu vực, tác động và buộc các bên, các nước thay đổi quan điểm, nhận thức, hành động trong xử lý các vấn đề quốc tế trên tinh thần tôn trọng lợi ích của nhau, đôi bên cùng có lợi; đồng thời kiềm chế các hành động quá khích, cực đoan, gây hấn, xâm phạm, phá hoại nhau giữa các nước; đây là giải pháp hạn chế nguyên nhân dẫn đến xung đột quân sự, ngăn chặn không để chiến tranh xảy ra. Đẩy mạnh xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, tối ưu, giữ được nước mà không phát động chiến tranh. Củng cố lòng tin chính trị quốc tế; không đi theo nước này để chống nước khác; ngược lại, cũng không trông chờ, dựa dẫm, ỷ lại bất kỳ nước nào trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Mặt khác, luôn tỉnh táo, xử lý đúng đắn, thận trọng các mối quan hệ quốc tế, tránh làm ảnh hưởng xấu đến lợi ích của nước khác trong bối cảnh mới của thế giới đương đại.
        Bốn là, giải quyết những tranh chấp chủ quyền, quyền chủ quyền trên khu vực biển Đông trên nguyên tắc hòa bình và thượng tôn pháp luật. Trong bối cảnh khu vực châu Á - Thái Bình Dương có sự điều chỉnh, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn và vì lợi ích chiến lược, các nước lớn sẽ gia tăng sự hiện diện quân sự, can dự sâu hơn, làm cho an ninh trên biển Đông diễn biến phức tạp. Đây không chỉ là những tác động trực tiếp, trước tiên mà còn là thử thách nghiêm trọng đối với quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc. “Chìa khóa” để Việt Nam giải quyết tranh chấp với các bên, các nước có liên quan là quán triệt, thực hiện đúng quan điểm ứng xử 2B (bình tĩnh, bình thường); 3 không (không liên minh quân sự với nước ngoài, không cho nước khác đặt căn cứ quân sự tại Việt Nam để tiến công nước khác, không sử dụng và đe dọa sử dụng vũ lực); 4 tránh (tránh xung đột về quân sự, tránh đối đầu về kinh tế, tránh cô lập về ngoại giao, tránh lệ thuộc về chính trị); 3 điều không để mất (không để mất chủ quyền lãnh thổ, không để mất hòa bình ổn định, không để mất tình hữu nghị với các nước) và 8K (kiên quyết, kiên trì, khôn khéo, không khiêu khích, không mắc mưu khiêu khích, kiềm chế, không để nước ngoài lấn chiếm, không để xảy ra xung đột). Nhanh chóng thúc đẩy thông qua bộ quy tắc ứng xử chung trên biển Đông (COC) với các bên có liên quan, không để tình hình thêm phức tạp.
Những đối sách trên đây là giải pháp cụ thể để “giữ nước từ lúc chưa nguy, trị nước từ khi chưa loạn”; là thực hiện bảo vệ Tổ quốc ngay từ trong hòa bình, chủ động bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa trong bối cảnh cục diện khu vực có sự điều chỉnh, cạnh tranh chiến lược gay gắt giữa các nước lớn hiện nay.

HOA SÚNG





Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét