BÁC BỎ LUẬN ĐIỂM ĐÒI “ĐA NGUYÊN CHÍNH TRỊ,
ĐA ĐẢNG ĐỐI LẬP” CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH
Nhân Trần
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là bước
ngoặt vô cùng quan trọng của lịch sử cách mạng Việt Nam, chấm dứt sự khủng
hoảng về đường lối và tổ chức lãnh đạo của các phong trào yêu nước, mở ra một
thời kì mới của đất nước - thời kỳ đấu tranh cách mạng có sự lãnh đạo của Đảng. Từ khi ra đời đến nay, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta đi
từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, đánh đuổi mọi kẻ thù xâm lược, giải phóng
dân tộc, thống nhất nước nhà. Bước vào công cuộc đổi mới, Đảng tiếp tục lãnh
đạo đất nước tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội và đạt được nhiều thành tựu to
lớn. Như vậy, chính thực tiễn đã chứng minh rằng, vai trò lãnh đạo của
Đảng là nhân tố quyết định cho mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đó là một
sự thật không thể phủ nhận.
Hiện nay, trong khi toàn Đảng, toàn
dân ta đang đoàn kết một lòng, nỗ lực phấn đấu, khơi dậy khát vọng xây dựng một
đất nước Việt Nam cường thịnh, thì các thế lực thù địch vẫn không ngừng xuyên
tạc, chống phá. Một trong những
luận điệu chống phá cơ bản của chúng là đòi Việt Nam phải thực hiện “đa nguyên
chính trị, đang đảng đối lập”.
“Đa nguyên chính trị” là một khuynh
hướng xã hội học - triết học xuất hiện từ đầu thế kỷ XVIII. Khuynh hướng này
tuyệt đối hóa sự đa dạng đối kháng của các đảng phái, tổ chức chính trị khác
nhau trong xã hội. “Đa nguyên chính trị” tất yếu gắn với “đa đảng đối lập”, bởi
một hệ thống chính trị đa đảng là hệ quả tất yếu từ “đa nguyên chính trị”. Ngày
nay, khẩu hiệu đòi “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” trở thành công cụ tư
tưởng để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá các nhà nước xã hội chủ nghĩa
và các trào lưu tiến bộ trên thế giới. Chúng cho rằng, chế độ chỉ có một đảng
lãnh đạo là độc tài, là mất dân chủ, là nguyên nhân dẫn đến mọi sự trì trệ,
tiêu cực của xã hội. Chỉ có “đa nguyên, đa đảng” mới có thể mang lại một nền
“dân chủ thực sự”. Tính nguy hiểm của thủ đoạn này biểu hiện ở một số
khía cạnh như sau:
Thứ nhất, đây là một luận
điểm mang nặng tính chất mị dân, dễ gây nên sự ngộ nhận, mơ hồ, lẫn lộn về nhận
thức, sự dao động tư tưởng trong một bộ phận nhân dân, thậm chí ngay cả một số
cán bộ, đảng viên. Điều này rất có thể sẽ dẫn đến sự chia rẽ về chính trị, tư
tưởng trong xã hội, cùng với đó là sự hoài nghi, xói mòn niềm tin của nhân dân
đối với sự lãnh đạo của Đảng ta.
Thứ hai, mưu đồ chực chất của “đa nguyên, đa đảng” là nhằm hạn chế, từ
đó dần dần thủ tiêu sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với xã hội, xóa
bỏ nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Một khi đạt được mưu đồ đó, các thế lực phản
động sẽ ngóc đầu dậy, tranh thủ kiếm chác lợi ích cho bản thân mình.
Thứ ba, nếu mất
cảnh giác trước luận điệu đòi “đa nguyên, đa đảng”, hệ quả tất yếu sẽ là đất
nước hỗn loạn, mất ổn định, nền kinh tế đổ vỡ, văn hóa suy đồi… Đất nước khi ấy
không thể có được nền độc lập thực sự, mà sẽ bị xâu xé, bị chi phối bởi các
nước lớn. Mọi thành quả cách mạng của nhân dân ta đã giành được, đánh đổi bằng
bao nhiêu hi sinh, mất mát, sẽ bị tiêu tan.
Cần khẳng định rằng, “đa nguyên, đa
đảng” cũng có yếu tố tích cực của nó, song thực chất “đa nguyên, đa đảng” không
hề đồng nhất với “dân chủ thật sự”. Bởi lẽ “dân chủ” là một giá trị xã hội,
được hình thành và bảo đảm bởi nhiều yếu tố, điều kiện khác nhau. Trong bất kỳ
xã hội nào, dù nhất nguyên hay đa nguyên, một đảng hay đa đảng, nhưng nếu đảng
cầm quyền và nhà nước quan tâm đến thể chế bảo đảm quyền lực thực tế của nhân
dân, chăm lo cho nhân dân, tôn trọng nhân dân… thì xã hội đó mới có “dân chủ
thật sự”. Ở Việt Nam, trong Cương lĩnh của Đảng và Hiến pháp của Nhà nước đều
thể hiện rõ quan điểm “mọi quyền lực thuộc về nhân dân”, “nhân dân lao động là
người chủ đất nước”... Dân chủ ở Việt Nam hiện nay là dân chủ xã hội chủ nghĩa,
một nền dân chủ hướng về đông đảo quần chúng nhân dân, rất khác biệt so với nền
dân chủ tư bản chủ nghĩa, vốn chỉ hướng đến bảo vệ lợi ích cho giai cấp tư sản.
Chính vì vậy, không thể vì một vài hạn chế, một vài hiện tượng mất dân chủ ở
một số nơi rồi cố tình phủ nhận bản chất tốt đẹp của chế độ ta.
Sự ra đời của một thể chế chính trị hay một đảng phái
chính trị phải do nhu cầu của thực tế xã hội, phải xuất phát từ nguyện vọng
chính đáng của nhân dân. Sự thành lập của một đảng phái không thể chỉ để “làm
phong phú, đa dạng thêm ý thức hệ tư tưởng” như một số kẻ rêu rao, mà tự thân
nó phải làm tròn bổn phận của mình, với tư cách là một lực lượng chính trị, để
mang lại lợi ích cho dân tộc, cho đất nước. Thực tế cho thấy, ở Việt Nam hiện
nay không hề có một nhu cầu nào như vậy. Đảng Cộng sản Việt Nam chính là lực
lượng đại diện duy nhất cho lợi ích của toàn dân tộc, ngoài lợi ích của giai
cấp, của dân tộc và của nhân dân, Đảng ta không có lợi ích nào khác. Nhu cầu về
đảng đối lập thực chất chỉ để phục vụ cho lợi ích nhỏ nhen, thấp hèn của một
nhóm người chỉ vì bản thân mà bất chấp.
Tóm lại, Việt Nam là một đất nước nhỏ bé, thường xuyên
bị kẻ thù nhòm ngó. Xuyên suốt lịch sử, dân tộc ta đã phải đoàn kết để dựng
nước và giữ nước. Do đó, tinh thần đại đoàn kết đã trở thành truyền thống quý
báu của dân tộc ta. Đảng Cộng sản Việt Nam chính là hiện thân cao nhất cho tinh
thần đại đoàn kết ấy. Việt Nam không thực
hiện chế độ đa đảng không phải vì chúng ta bảo thủ hoặc mất dân chủ như các thế
lực thù địch cố tình xuyên tạc, mà đó là yêu cầu khách quan, là vì sự ổn định
và phát triển của đất nước. “Đa nguyên, đa đảng” không phù hợp với
hoàn cảnh nước ta và chắc chắn không thể được nhân dân ta chấp nhận./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét