LỜI KÊU GỌI TOÀN QUỐC
KHÁNG CHIẾN
- LỢI HIỆU TRIỆU NON
SÔNG
Đã 72 năm kể từ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra
“Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến”, nhưng âm hưởng hào hùng của lời kêu gọi
bất hủ ấy vẫn mãi trường tồn cùng lịch sử dân tộc Việt Nam, mãi là lời hịch của
non sông, một văn kiện mang tính cương lĩnh quân sự có giá trị lịch sử trong
mọi thời đại, thể hiện ý thức sâu sắc giá trị của độc lập dân tộc và niềm tin
vững bền về con đường cách mạng mà Đảng, Bác Hồ và Nhân dân ta đã lựa chọn: Độc
lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành
công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - nhà nước công nông đầu tiên ở khu vực
Đông Nam Á ra đời, đánh dấu bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Lần
đầu tiên, chính quyền thuộc về nhân dân; gần 80 năm chịu sự gông xiềng của
ngoại bang phương Tây, người dân Việt Nam đã trở thành người chủ vận mệnh dân
tộc mình. Song, kẻ thù nào chịu để yên và chính quyền cách mạng non trẻ của
nhân dân đang đứng trước muôn vàn khó khăn thử thách, tình thế cách mạng lúc
này mong manh như “trứng để đầu gậy” phải đối mặt với nhiều kẻ thù cùng lúc:
Giặc đói, giặc dốt và đặc biệt là giặc ngoại xâm.
Ngày 23/9/1945, thực dân Pháp núp bóng quân
Anh vào giải giáp quân Nhật đầu hàng, đã nổ súng đánh ta ở Sài Gòn rồi cả Nam
Bộ. Chủ tịch Hồ Chí Minh, một mặt kêu gọi nhân dân Nam Bộ và Nam Trung Bộ đứng
lên kháng chiến, mặt khác ra sức đàm phán với Chính phủ Pháp để cứu vãn hòa
bình. Người đã ký với đại diện Chính phủ Pháp tại Hà Nội “Hiệp định Sơ bộ” ngày
6/3/1946. Tiếp đó, Người đích thân qua Pháp chỉ đạo phái đoàn Chính phủ ta đàm
phán với Chính phủ Pháp ở Fontainebleau. Cuộc đàm phán thất bại do lập trường
phía Pháp vẫn theo đuổi chính sách thống trị Việt Nam. “Còn nước còn tát”, Chủ
tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng làm việc cả ngày lẫn đêm, để kéo dài thời
gian Người ký với Chính phủ Pháp Tạm ước ngày 14/9/1946. Ngày 16/9/1946, Người
rời cảng Toulon (Pháp) trở về nước.
Ngày 16/10, Người tiếp tục gặp tướng Pháp
Đắc-giăng-li-ơ ở vịnh Cam Ranh. Thỏa thuận ngừng bắn theo Tạm ước 14/9 không
được thực hiện ở Nam Bộ. Cuối tháng 11/1946, quân Pháp đánh chiếm Hải Phòng,
Lạng Sơn và đổ bộ lên Đà Nẵng. Tại Hà Nội, quân Pháp liên tiếp nổ súng, ném lựu
đạn vào nhiều nơi trong các ngày 15, 16/12/1946 như: Đốt nhà thông tin ở phố
Tràng Tiền, chiếm cơ quan Bộ Tài chính và Bộ Giao thông công chính. Ngày
17/12/1946, quân Pháp cho xe phá các công sự của ta ở phố Lò Đúc, đặc biệt,
chúng đã gây ra vụ tàn sát nhiều đồng bào ta ở phố Hàng Bún và Yên Ninh, gây
xung đột đổ máu ở cầu Long Biên, khu Cửa Đông. Bội ước Hiệp định Sơ bộ 6/3 và
Thỏa ước 19/4/1945, thực dân Pháp ráo riết tăng cường lực lượng và đến tháng
11/1946, số quân của chúng tại nước ta đã lên tới 10 vạn. Ngày 18/12/1946,
tướng Moóc-li-e gửi cho ta hai tối hậu thư đòi chiếm đóng Sở Tài chính, đòi ta
phải phá bỏ mọi công sự chướng ngại trên các đường phố, giải tán lực lượng tự
vệ chiến đấu và giao quyền kiểm soát an ninh trật tự ở Thủ đô Hà Nội cho chúng.
Pháp tuyên bố nếu các yêu cầu trên không được Chính phủ Việt Nam chấp nhận thì
chậm nhất vào sáng 20/12/1946 quân Pháp sẽ hành động. Trước tình hình đó, vào 2
ngày (18 và 19/12/1946), tại làng Vạn Phúc (Hà Đông), Thường vụ Trung ương Đảng
họp mở rộng do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì, quyết định phát động cuộc kháng
chiến trên phạm vi toàn quốc. Giờ hành động cứu quốc đã điểm, đúng 20 giờ ngày
19/12/1946, quân dân Thủ đô Hà Nội đã nổ súng mở đầu cuộc kháng chiến trong
toàn quốc. Ngày 20/12/1946, tại Hang Trầm (Chương Mỹ, Hà Đông), Đài Tiếng nói Việt
Nam phát đi Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch
Hồ Chí Minh
“Hỡi đồng bào toàn quốc!
Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân
nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng
muốn cướp nước ta lần nữa!
Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất
định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ.
Hỡi đồng bào,
Chúng ta phải đứng lên!
Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già,
người trẻ, không phân biệt đảng phái, tôn giáo, dân tộc. Hễ là người Việt Nam
thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc, ai có súng dùng súng, ai
có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải
ra sức chống thực dân Pháp cứu nước.
Hỡi anh em binh sĩ, tự vệ, dân quân! Giờ cứu
nước đã đến. Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng để giữ gìn đất nước.
Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một
lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta! Việt Nam độc lập và
thống nhất muôn năm! Kháng chiến thắng lợi muôn năm.
Hà Nội ngày 19/12/1946
Hồ Chí Minh”
Toàn văn “Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến”
của Chủ tịch Hồ Chí Minh tuy ngắn gọn nhưng súc tích, giản dị, đanh thép, có
sức cổ vũ, động viên và tổ chức lực lượng kháng chiến vô cùng mạnh mẽ. Trong
giờ phút Tổ quốc lâm nguy, tình thế hết sức hiểm nghèo “ngàn cân treo sợi tóc”,
từng câu từng chữ trong lời kêu gọi kháng chiến thiêng liêng của Bác nhanh
chóng thấm nhuần sâu sắc vào tâm khảm nhân dân ta, khơi dậy mạnh mẽ lòng tự
hào, tự tôn dân tộc, truyền thống yêu nước, anh hùng bất khuất, kiên cường của
nhân dân Việt Nam; là hiệu lệnh làm sục sôi khí thế đấu tranh bằng sức mạnh của
chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ của người Việt Nam với mọi thứ vũ khí
có sẵn, với một ý chí “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, một thái độ dứt khoát
và kiên định: “Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định
không chịu làm nô lệ”.
Trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù xâm lược,
không còn con đường nào khác ngoài việc dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo
lực phản cách mạng. Khi đã buộc phải kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh kiên
quyết động viên toàn dân chiến đấu:
“Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất
định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”.
Kết thúc lời kêu gọi, Hồ Chí Minh khẳng định
niềm tin tất thắng:
“Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một
lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta.
Việt Nam độc lập và thống nhất muôn năm!
Kháng chiến thắng lợi muôn năm!”
Có thể nói, Lời kêu gọi và ngày Toàn quốc
kháng chiến 19/12/1946 đã thể hiện sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Chủ tịch
Hồ Chí Minh và Đảng ta, bám sát tình hình thực tiễn, nắm vững thời cơ, chọn
đúng mặt trận chính, tính toán thời điểm nổ súng chính xác, biến bị động thành
chủ động, tạo nên thế trận mới cho mặt trận Hà Nội có điều kiện cầm chân quân
địch mạnh đông để cả nước chuyển vào căn cứ kháng chiến trường kỳ. Việc nổ súng
phát động toàn quốc kháng chiến ngày 19/12 giữa thủ đô là một trường hợp hiếm
thấy trong lịch sử, thể hiện một nghệ thuật khởi đầu cuộc chiến tranh cách mạng
thật đúng đắn, quả cảm và sáng tạo. 72 năm đã trôi qua nhưng khí thế hào hùng
của những ngày đầu toàn quốc kháng chiến đã trở thành ngày lịch sử, là dấu son
chói lọi trong cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn
lãnh thổ. Trải qua bao biến cố thăng trầm của thời gian, nhưng giá trị lịch sử
của “Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến” luôn là kim chỉ nam cho mọi hành động
cách mạng của toàn thể nhân dân Việt Nam, cổ vũ, hiệu triệu quốc dân đồng bào
kề vai sát cánh, chung sức đồng lòng, đoàn kết nhất trí đánh giặc, giữ nước,
giành lại độc lập, tự do, thống nhất cho Tổ quốc.
Ngày nay, Lời kêu gọi thiêng liêng của Bác vẫn
mãi giữ nguyên tính thời sự, đó là giá trị của niềm tin vào chân lý, là ý thức
sâu sắc giá trị độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Sự nghiệp xây
dựng chủ nghĩa xã hội vì dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh và
bảo vệ chủ quyền lãnh thổ còn nhiều khó khăn, thách thức nhưng nhất định chúng
ta sẽ thành công, nước Việt Nam ngày càng hội nhập và khẳng định vị thế trên
trường quốc tế. 72 năm đã trôi qua kể từ ngày Hồ Chủ tịch viết lời kêu gọi Toàn
quốc kháng chiến nhưng những câu nói đó vẫn vang vọng trong tiềm thức của bao
người dân Việt Nam.
BÀN
LUẬN
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét