VIỆT NAM ĐỐI MẶT VỚI MỘT CUỘC CHIẾN TRANH ĐIỆN TỬ HIỆN ĐẠI NHẤT CỦA MỸ TRONG THẾ KỶ XX
Đế quốc Mỹ quyết định tiến hành
cuộc tập kích đường không chiến lược vào miền Bắc Việt Nam bằng B52 nhằm mục
tiêu: 1) Đánh phá huỷ diệt tiềm lực kinh tế quốc phòng của miền Bắc, trọng tâm
là Thủ đô Hà Nội, thành phố cảng Hải Phòng, khu gang thép Thái Nguyên… hòng hạn
chế tối đa sự chi viện của miền Bắc cho cách mạng miền Nam; 2) Làm tê liệt ý
chí chiến đấu, quyết chiến, quyết thắng của dân tộc Việt Nam, ép chúng ta phải
chấp nhận ký Hiệp định Pari theo các điều khoản sửa đổi của họ; 3) Đe dọa phong
trào đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc của nhân dân thế giới.
Theo lệnh Tổng thống Nixon, từ
tháng 11/1972, Lầu Năm góc chính thức xây dựng kế hoạch cho cuộc tập kích đường
không chiến lược mang tên “Cuộc hành binh Linebacker II”. Theo đó,
Nhà trắng và Lầu Năm góc đã huy động một lực lượng vũ khí, kỹ thuật khổng lồ và
hiện đại bậc nhất của không quân và hải quân Mỹ. Đây là cuộc huy động lực lượng
tập kích đường không lớn nhất của đế quốc Mỹ kể từ sau Chiến tranh thế giới lần
thứ hai đến năm 1972, với gần 50% tổng số máy bay B52 nước Mỹ đang có lúc bấy
giờ (193/404 chiếc); hơn 1/3 tổng số máy bay chiến thuật - cả tiêm kích và
cường kích (1.077/3.041 chiếc), trong đó có một biên đội 50 chiếc F111, chưa kể
hàng trăm máy bay trinh sát, máy bay gây nhiễu, máy bay tiếp dầu, máy bay chỉ
huy liên lạc dẫn đường; 1/4 tổng số tàu sân bay (6/24 chiếc) và 60 tàu chiến
các loại của Hạm đội 7.
Trong cuộc tập kích này, các
máy bay B52 xuất phát từ 2 sân bay Guyam và Utupao (Thái Lan), các máy bay
chiến thuật xuất phát từ 6 tàu sân bay trên Biển Đông và 6 sân bay trên đất
Thái Lan. Cùng với đó là các căn cứ hậu cần kỹ thuật của Mỹ đóng tại Nhật Bản,
Philippines. Các máy bay chiến lược và chiến thuật đều được cải tiến kỹ thuật
mới nhất, có tính năng kỹ thuật tối ưu. Chẳng hạn như, hệ thống máy gây nhiễu
điện tử từ xa đều được lắp trên các máy bay đặc chủng để gây nhiễu như EA6A,
EB66-B-C-D-E, EC121; mỗi chiếc B52 được lắp 15 máy gây nhiễu; mỗi máy bay tiêm
kích (hộ tống các B52) lắp 2 máy gây nhiễu. Theo đó, mỗi tốp B52 (3 chiếc) có
45 máy gây nhiễu, đi cùng là 45 máy bay F4 hộ tống với 90 máy gây nhiễu. Trong
12 ngày đêm tháng chạp năm 1972, trước mỗi đợt tập kích, không quân Mỹ thả sợi
kim loại tạo thành “bức tường kim loại” cao từ 3km - 4km, rộng 5km - 6km, dài
40km - 70km. Đây là một “bức tường” khổng lồ nhiễu tiêu cực. Trong mỗi đợt tập
kích, trên bầu trời Hà Nội, Hải Phòng luôn có một tốp 2 máy bay gây nhiễu điện
tử từ xa, mỗi chiếc mang theo 25 máy gây nhiễu, liên tục gây nhiễu tích cực đối
với hệ thống radar của ta. Cùng với thủ đoạn dùng B52 tập kích vào ban đêm, hệ
thống máy gây nhiễu của không quân Mỹ (trong đó có gây nhiễu “giả B52”) hầu như
loại trừ mọi khả năng quan sát bằng kính quang học nhìn xa của các đài quan sát
dưới đất (tại trận địa pháo cao xạ), đồng thời “vô hiệu hóa” khả năng nhìn trực
tiếp của các phi công MIG21 Việt Nam.
Bộ Quốc Phòng Mỹ đã coi nhiễu
điện tử là niềm kiêu hãnh của nền công nghiệp Hoa Kỳ, là sức mạnh siêu phàm,
“lá bùa màu nhiệm” có thể làm “mù” toàn bộ hệ thống radar - từ radar cảnh giới
dẫn đường, radar tên lửa, radar pháo phòng không cho đến hệ thống thông tin
liên lạc của chúng ta. Với hệ thống gây nhiễu điện tử này, Không lực Hoa Kỳ cho
rằng, các pháo đài bay B52 của họ sẽ là lực lượng “tàng hình” - loại bỏ và vô
hiệu hóa hoàn toàn tên lửa cũng như pháo phòng không của chúng ta.
Khái quát một số thông tin nêu
trên để nhấn mạnh lại rằng, chúng ta đã đối mặt với một cuộc chiến tranh điện
tử hiện đại nhất của Mỹ trong thế kỷ XX - một hình thái tổng hợp giữa yếu
tố kỹ thuật của các thiết bị điện tử tối tân nhất với những thủ đoạn chiến
thuật cực kỳ tinh vi và lợi hại.
LHS
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét