CUỘC CHIẾN ĐẤU KHÔNG CÂN SỨC
Để thực hiện mở màn cho “Cuộc
hành binh Linebacker II”, Bộ chỉ huy Không quân Mỹ cho lực lượng cường
kích bay thấp F111 và lực lượng cường kích F4, F105, A6, A7, A4 đồng loạt tấn
công tất cả các sân bay của Không quân ta ở Hà Nội, Bắc Giang, Yên Bái, Hải
Phòng, Thanh Hóa. Ngay sau đó, lực lượng pháo đài bay B52 tiến hành rải thảm
bom hủy diệt Hà Nội, Hải Phòng và một số địa phương khác.
Hòng đưa Hà Nội vào trở về “thời kỳ đồ đá”, trong 12 ngày đêm,
Không quân Mỹ đã rải hơn 100.000 tấn bom, phá hủy 5.400 ngôi nhà cùng hơn 100
nhà máy, xí nghiệp, trường học, bệnh viện; giết chết 2.388 dân thường, làm bị
thương 1.355 người. Độ tàn bạo của cuộc rải thảm bom hủy diệt này được ví như
là một “Hirosima không có bom nguyên tử”.
Xin ngược lại một số sự kiện
trước khi Mỹ tiến hành “Cuộc hành binh Linebacker II”. Đó là, sau
thất bại thảm hại của Mỹ ngụy ở Đường 9-Nam Lào (1971), đầu năm 1972, chiến
lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ có nguy cơ sụp đổ hoàn toàn. Để cứu vãn
tình thế, ngày 6/4/1972, Tổng thống Nixon ra lệnh tiến hành cuộc chiến tranh
phá hoại lần thứ hai ở miền Bắc Việt Nam với quy mô, tính chất lớn hơn, ác
liệt, tàn bạo hơn so với cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ
nhất (1964-1968). Mỹ sử dụng cả máy bay chiến lược B52 đánh phá các tỉnh
Quảng Bình, Nghệ An, Thanh Hóa, Hải Phòng. Quân và dân ta đã chiến đấu kiên
cường, dũng cảm đánh bại các đợt đánh phá, tập kích đường không của địch, cục
diện chiến tranh chuyển hướng ngày càng có lợi cho ta.
Ngày 8/1/1972, tại Hội nghị đàm
phán bốn bên ở Paris, ta đã đưa ra dự thảo Hiệp định về chấm dứt chiến
tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Lúc đầu phía Mỹ đã đồng ý với bản dự
thảo này. Nhưng sau khi Tổng thống Nixon thỏa hiệp được với một số nước lớn, Mỹ
đã bội ước, không những không thực hiện lộ trình chấm dứt chiến tranh,
lập lại hòa bình ở Việt Nam mà còn thực hiện những thủ đoạn đánh lừa
và trấn an dư luận Mỹ thông qua màn khói “Hòa bình đang ở trong tầm tay”, để
đầu tháng 11/1972, sau khi có kết quả tái cử vào Nhà trắng, lập tức Tổng thống
Nixon, Cố vấn Kissinger, Bộ trưởng Quốc phòng Laira, Thứ Trưởng Quốc phòng Haig
và Chủ tịch Hội đồng tham mưu liên quân Moorer thông qua kế hoạch tuyệt mật:
“Cuộc hành binh Linebacker II”.
Năm 1972, Bộ đội Phòng không -
Không quân của ta phải đảm đương 3 nhiệm vụ rất nặng nề: Tham gia chiến đấu
trong đội hình quân binh chủng hợp thành ở chiến trường phía Nam, vừa phải bảo
vệ vùng giải phóng Quảng Trị và giao thông vận tải chiến lược trên địa bàn Quân
khu 4 và sẵn sàng đánh trả cuộc tập kích chiến lược đường không vào Hà Nội, Hải
Phòng. Vì vậy, buộc phải “dàn mỏng” lực lượng tên lửa và pháo phòng không để
đáp ứng các yêu cầu nhiệm vụ chiến lược. Lực lượng tên lửa bảo vệ Thủ đô lúc
này có 10 tiểu đoàn (sau đó bổ sung thêm một số tiểu đoàn nữa), bảo vệ Hải
Phòng có 2 trung đoàn. Pháo cao xạ của Hà Nội, Hải Phòng cùng với lực lượng
Phòng không của Quân khu 3, Quân khu Việt Bắc có 15 trung đoàn. Lực lượng dân
quân tự vệ Hà Nội ngoài 4 trung đội pháo cao xạ 100 ly còn có gần 200 trận địa
trung liên, đại liên, súng máy 12,7 ly, 14,5 ly. Máy bay tiêm kích MIG21, loại
có tính năng vượt trên tầm cao của B52 có vài trung đoàn nhưng số phi công lái
MIG21 có khả năng bay đêm lại không nhiều. Lực lượng radar cảnh giới dẫn đường
cũng chỉ có gần 30 đại đội được bố trí khắp miền Bắc.
Từ một vài số liệu nêu trên để
thấy, lực lượng của Mỹ chiếm ưu thế áp đảo cả về số lượng và kỹ thuật hiện đại tối
tân so với chúng ta. Trong cuộc chiến đấu không cân sức này, quân dân Hà Nội,
Hải Phòng, mà nòng cốt là lực lượng Phòng không - Không quân đã anh dũng, thông
minh, sáng tạo, quyết chiến trong 12 ngày đêm lịch sử, làm nên chiến thắng “Hà
Nội - Điện Biên Phủ trên không”.
Hoằng Tháo
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét