SỰ PHÁT TRIỂN
CỦA ĐỐI NGOẠI QUỐC PHÒNG VIỆT NAM
Nhân Trần
Bước chuyển thật sự mang tính chiến lược về nhận thức và quan điểm đối
ngoại của Đảng được thể hiện qua Nghị quyết số 13/NQ-TW ngày 20/5/1988 của Bộ
Chính trị về nhiệm vụ và chính sách đối ngoại trong tình hình mới. Nghị quyết
chỉ ra chiến lược đối ngoại của Việt Nam là “thêm bạn, bớt thù”, vừa “hợp tác,
vừa đấu tranh” cùng tồn tại hòa bình, “mở rộng quan hệ và đa dạng hóa quan hệ
hợp tác quốc tế” với mục tiêu giữ vững môi trường hòa bình, thúc đẩy hội nhập
quốc tế, phá thế bao vây cấm vận, thu hút sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế đối
với công cuộc đổi mới của đất nước. Khi Chiến tranh lạnh chấm dứt và Liên Xô
sụp đổ, Đảng Cộng sản Việt Nam đã kịp thời điều chỉnh chính sách đối ngoại với
tuyên bố “Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới,
phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”.
Bước sang thế kỷ XXI, sau 15 năm đổi mới, thế và lực của Việt Nam đã
được tăng cường, uy tín trên trường quốc tế ngày một nâng cao. Từ Đại hội lần
thứ IX của Đảng (4/2001) đã có điều chỉnh về phương châm “Việt Nam muốn là bạn
của tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế” thành “Việt Nam sẵn sàng là bạn”
và lần đầu tiên nhấn mạnh thêm “là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng
quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”. Các Đại hội X (4/2006),
Đại hội XI (01/2011) và Đại hội XII của Đảng (01/2016) tiếp tục khẳng định
chính sách đối ngoại nhất quán của Việt Nam là “đa phương hóa, đa dạng hóa quan
hệ” và nhấn mạnh thêm là cần “chủ động và tích cực” hội nhập quốc tế vì lợi ích
quốc gia - dân tộc.
Kế thừa, phát huy thành tựu của 35 năm đổi mới và hội nhập, Văn kiện
Đại hội XIII khẳng định: Việt Nam kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự
chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa quan
hệ đối ngoại, chỉ ra định hướng đối ngoại của Việt Nam trong 5 năm tới: “Đẩy
mạnh đối ngoại song phương và nâng tầm đối ngoại đa phương. Coi trọng phát
triển quan hệ hợp tác, hữu nghị, truyền thống với các nước láng giềng. Đẩy mạnh
và làm sâu sắc hơn quan hệ hợp tác song phương với các đối tác, đặc biệt là các
đối tác chiến lược, đối tác toàn diện và đối tác quan trọng khác; kiên quyết,
kiên trì đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu, hành động can thiệp của các thế
lực thù địch vào công việc nội bộ, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất,
toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia và ổn định chính trị đất nước”.
Nhìn một cách tổng quát, chính sách đối ngoại được Đại hội XIII của
Đảng thông qua là sự kế thừa và tiếp nối chính sách đối ngoại từ khi đổi mới
cho đến nay, đặc biệt nhấn mạnh bối cảnh quốc tế và khu vực ngày càng diễn biến
khó lường, tiềm ẩn nhiều nguy cơ ảnh hưởng đến môi trường hòa bình và phát
triển của đất nước. Song, Việt Nam đã tích cực, chủ động trong việc thiết lập,
mở rộng và làm sâu sắc thêm hợp tác quốc phòng song phương với các quốc gia,
trước hết là với các nước láng giềng, các nước trong khu vực, các nước bạn bè
truyền thống và các nước lớn. Đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ hợp tác
quốc phòng ở các cấp độ khác nhau với hơn 80 nước, trong đó có các nước lớn.
Đối ngoại quốc phòng của Việt Nam đã góp phần thiết thực vào duy trì
hòa bình, ổn định an ninh khu vực và trên thế giới. Những đóng góp này đều được
khẳng định rõ nét qua hai lần Việt Nam đảm nhiệm vai trò Chủ tịch luân phiên
của ASEAN và Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Dấu ấn
nổi bật là sự tham gia của Việt Nam vào lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp
quốc. Từ năm 2014 đến nay, chúng ta đã cử được 246 lượt cán bộ, nhân viên Quân
đội đi làm nhiệm vụ tại trụ sở Liên hợp quốc ở New York (Mỹ) và các phái bộ Nam
Xu-đăng, Cộng hòa Trung Phi. Trong đó, bảy năm qua, Việt Nam đã cử 33 lượt nữ
quân nhân trong đội hình Bệnh viện dã chiến và bốn nữ sĩ quan theo hình thức cá
nhân. Sự tham gia tích cực của Việt Nam được lãnh đạo Liên hợp quốc đánh giá
cao. Ở cấp độ khu vực, hợp tác quốc phòng, an ninh đa phương của Việt Nam chính
thức được khởi động kể từ khi gia nhập Diễn đàn An ninh khu vực ASEAN (ARF năm
1994). Sau khi trở thành thành viên của ASEAN vào năm 1995, Việt Nam dần từng
bước chủ động tham gia vào các cơ chế hợp tác của Hiệp hội như ARF, Đối thoại
Shangri-La, Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN (ADMM), ADMM+...
Bên cạnh hợp tác đối ngoại quốc phòng đa phương, Việt Nam cũng thực
hiện thành công các hoạt động đối ngoại quốc phòng song phương. Với Liên bang
Nga, Bộ Quốc phòng hai nước đã thống nhất xây dựng cơ chế Đối thoại Chiến lược
quốc phòng cấp Thứ trưởng, hợp tác đào tạo, nghiên cứu khoa học, sản xuất công
nghiệp quốc phòng. Với Trung Quốc, hai Bộ Quốc phòng đã triển khai nhiều hợp
tác quan trọng như phối hợp tuần tra liên hợp nghề cá trên Vịnh Bắc Bộ, hỗ trợ
nhân đạo và cứu trợ thảm họa, “Thỏa thuận hợp tác biên phòng”, Giao lưu hữu
nghị Quốc phòng biên giới Việt - Trung. Với Hoa Kỳ, quan hệ hợp tác quốc phòng
được triển khai với phương châm “gác lại quá khứ, hướng tới tương lai”, nhất là
sau khi hai nước ký kết “Bản ghi nhớ về hợp tác quốc phòng” các hoạt động đối
thoại an ninh chính trị, quân sự cấp cao nhằm tăng cường sự hiểu biết, tin cậy
và hỗ trợ lẫn nhau được tổ chức ngày một nhiều. Đặc biệt, , hai bên đã ký kết “Tuyên
bố tầm nhìn chung về quan hệ quốc phòng Việt Nam - Hoa Kỳ” với 5 nội dung lớn
gồm: Tăng cường tham vấn chính sách; hợp tác khắc phục hậu quả chiến tranh, như
rà phá bom mìn và tẩy độc đi-ô-xin; hợp tác gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc;
khắc phục hậu quả thiên tai, tìm kiếm cứu trợ; hợp tác trong lĩnh vực an ninh
biển trên cơ sở luật pháp quốc tế và luật pháp mỗi bên.
Nhìn lại chặng đường 35 năm hội nhập và đối ngoại quốc phòng của Việt
Nam, chúng ta càng thêm tin tưởng và kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã
hội mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn. Đối ngoại quốc phòng và hội
nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, góp phần nâng cao uy tín, vị thế quốc gia trên
trường quốc tế, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong
tình hình mới./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét