Chủ Nhật, 24 tháng 2, 2019

CHỐNG ÂM MƯU “TỰ DIỄN BIẾN, TỰ CHUYỂN HOÁ”
TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO
VÀ NGĂN CHẶN CÁC TÀ ĐẠO, TẠP GIÁO Ở TÂY NGUYÊN

   Từ nhiều năm nay, các thế lực thù địch luôn khai thác, lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo gắn với nhân quyền để thực hiện âm mưu “diễn biến hoà bình” chống phá nước ta. Các thủ đoạn được sử dụng gần như phổ biến là lợi dụng sự sơ hở, thiếu sót trong việc thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo ở một số địa phương để xuyên tạc tình hình, vu khống Nhà nước ta vi phạm tự do tôn giáo; tìm cách nắm và nuôi dưỡng những phần tử bất đồng, bất mãn, hình thành lực lượng chống đối trong các tôn giáo; gây sức ép với ta trên các diễn đàn song phương và đa phương về tự do tôn giáo và nhân quyền. Điển hình như Mỹ: tuy đã bình thường hoá quan hệ và mong muốn thúc đẩy quan hệ đối tác chiến lược với Việt Nam, nhưng vẫn thực hiện “chiến lược ngoại giao nhân quyền” nhằm mục tiêu chuyển hoá chính trị, hướng Việt Nam theo quỹ đạo của Mỹ, mà một trong những vấn đề được xoáy vào nhiều nhất là dân tộc, tôn giáo gắn với nhân quyền. Chúng ta đã quá quen với những bản điều trần, báo cáo thường niên không khách quan, thiếu thiện chí và nhiều dự luật sai trái của Quốc hội Mỹ về tự do tôn giáo, nhân quyền ở Việt Nam.
Cùng với các kiểu hoạt động chống phá và gây sức ép về mặt ngoại giao, một trong những vấn đề các thế lực thù địch đang tập trung thúc đẩy “kích hoạt”, đó chính là yếu tố “tự diễn biến, tự chuyển hoá” trong quá trình thực hiện chính sách dân tộc và tôn giáo ở Việt Nam. Trong phạm vi bài một bài viết ngắn, chúng tôi chỉ đề cập đến một vài nguy cơ “tự diễn biến, tự chuyển hoá” liên quan đến việc thực hiện công tác đối với đạo Tin lành và đấu tranh ngăn chặn các loại tà đạo, tạp giáo ở Tây Nguyên.
Tây Nguyên là địa bàn có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng của đất nước, là vùng đất đa dạng về dân tộc và tôn giáo. Hiện toàn vùng có gần 1,9 triệu tín đồ các tôn giáo, chiếm 34,8% dân số[1]. Riêng đạo Tin lành có 30 nhóm, hệ phái đang hoạt động, với tổng số 410.578 tín đồ, trong đó có 387.140 tín đồ là người DTTS (dân tộc thiểu số) chiếm 94,3%. Trong những năm qua, quán triệt sâu sắc quan điểm chỉ đạo của Trung ương, các địa phương đã thực hiện khá tốt chính sách tôn giáo nói chung, công tác đối với đạo Tin lành nói riêng. Đã tập trung giải quyết nhu cầu tín ngưỡng trên quan điểm quần chúng (lấy dân làm gốc), tôn trọng sự lựa chọn về tín ngưỡng của nhân dân; bảo đảm cho các hoạt động tôn giáo tuân thủ pháp luật. Ý nghĩa của việc "bình thường hoá" hoạt động đối với đạo Tin Lành là khẳng định chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo nhất quán của Đảng và Nhà nước; củng cố lòng tin trong quần chúng, tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ của đông đảo tín đồ, chức sắc; sẵn sàng cảnh giác trước mọi âm mưu lợi dụng đạo Tin Lành của các thế lực thù địch; cơ bản giải tỏa được các nghi vấn và sức ép của cộng đồng quốc tế về “tôn giáo, nhân quyền” ở Tây Nguyên, góp phần vào việc giữ vững ổn định chính trị-xã hội, củng cố khối đoàn kết dân tộc.
Tuy nhiên, trên lĩnh vực công tác này vẫn còn nhiều vấn đề có tính căn cơ và lâu dài chúng ta chưa làm được hoặc chưa lường hết được và nhiều khả năng có thể trở thành mầm mống của tình trạng tự diễn biến, tự chuyển hoá theo âm mưu, ý đồ của các thế lực thù địch, trong đó chúng tôi quan tâm đến 3 vấn đề: Chủ nghĩa ly khai trong hoạt động tôn giáo nói chung, đạo Tin Lành nói riêng; sự suy giảm của văn hoá truyền thống trong môi trường Ki Tô giáo và sự trỗi dậy của các loại tà đạo và tạp giáo.
1. Đạo Tin Lành với ưu thế là một tôn giáo thế tục, luật lệ, lễ nghi đơn giản, thích nghi, tính dân chủ, cởi mở cao, tự nó có sức thu hút đối với đồng bào DTTS, nên khi Tin lành phát triển rộng khắp, thực lực lớn mạnh rất dễ tạo thành một “lực lượng quần chúng” gắn với vấn đề dân tộc sâu sắc. Vì vậy, Tin lành thường là trọng tâm để các thế lực thù địch và bọn phản động FULRO lợi dụng, tìm cách tác động, lôi kéo để thực hiện mưu đồ ly khai. Bên cạnh đó, tư tưởng phân biệt Kinh-Thượng do lịch sử để lại còn khá sâu đậm trong một bộ phận chức sắc và tín đồ người DTTS là nhân tố tiềm tàng của chủ nghĩa ly khai và "Tin lành Đêga". Điều đó nói lên rằng gốc rễ của vấn đề không chỉ là đưa hoạt động của đạo Tin lành vùng DTTS vào quản lý bằng pháp luật, mà chính là việc không để cho tâm lý dân tộc hẹp hòi và chủ nghĩa ly khai trỗi dậy. Bằng nhiều chủ trương, giải pháp hữu hiệu và linh hoạt, các cấp uỷ đảng, chính quyền, các cơ quan chức năng ở Tây Nguyên phải quan tâm chăm lo xây dựng các hội thánh gắn bó với dân tộc, tuân theo đường hướng “phụng sự Thiên chúa và phục vụ Tổ quốc”. Một trong những giải pháp quan trọng là phải chăm lo công tác quần chúng, giáo dục vận động tín đồ, tranh thủ chức sắc, xây dựng cốt cán, thực lực chính trị trong tôn giáo và vùng giáo để luôn cảnh giác và kịp thời, chủ động phát hiện ngăn chặn các biểu hiện ly khai, góp phần bảo đảm sự bình yên, ổn định chính trị vững chắc ở Tây Nguyên.
2. Một vấn đề không liên quan trực tiếp nhưng tự nó mang yếu tố “tự diễn biến, tự chuyển hoá” sâu sắc trong đời sống tôn giáo mà chúng ta chưa quan tâm đúng mức, đó là sự suy giảm văn hoá truyền thống của các dân tộc trong bối cảnh hoạt động của Ki tô giáo. Thực tế trong nhiều năm qua, để đưa đạo Chúa vào vùng đồng bào DTTS, các nhà truyền giáo gần như tuyên chiến với văn hóa dân tộc. Họ không những không khuyến khích người DTTS tự hào, gìn giữ các di sản văn hóa đặc sắc của mình, mà còn lợi dụng xu thế chung của đồng bào là muốn trút bỏ gánh nặng về hủ tục để giương cao ngọn cờ bài trừ mê tín dị đoan, hô hào bãi bỏ các sinh hoạt văn hoá truyền thống, tạo nên những quan niệm lệch lạc về văn hoá tinh thần. Đi cùng với quá trình này là hiện tượng suy giảm về đạo đức xã hội; tính cố kết cộng đồng buôn làng bị rạn nứt; luật tục ràng buộc hành vi con người vẫn có nhưng dần bị xem nhẹ; vai trò của già làng, trưởng buôn mờ nhạt; vai trò dòng tộc, huyết thống lỏng lẻo. Nhiều người theo đạo Tin Lành đã đập bỏ chiêng ché, không tham gia các lễ hội, từ bỏ các sinh hoạt làm xóa nhòa tâm thức đối với các tập tục cổ truyền đã hình thành từ nhiều đời nay. Từ nền tảng của sự sa sút này, Ki Tô giáo có những điều kiện vô cùng thuận lợi để chinh phục tín ngưỡng đa thần và hướng đến mục tiêu “tôn giáo hoá” vùng DTTS. Tuy một bộ phận đồng bào đã nhận biết và cố gắng níu giữ phần nào còn có thể nhưng cũng chỉ là tình cảm mang tính tự phát. Điều đó đặt ra cho chúng ta thấy công tác bảo tồn, phát huy văn hoá truyền thống của các dân tộc đặt ra cấp thiết hơn lúc nào hết, không chỉ có ý nghĩa về mặt xã hội mà còn có ý nghĩa về chính trị. Vì vậy đối với Tây Nguyên hiện nay, vừa tập trung phát triển kinh tế đồng thời phải hết sức chú trọng chính sách văn hoá, nhất là nâng cao dân trí, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá bản địa; làm thế nào để đồng bào nhận thức đầy đủ và có bổn phận gìn giữ di sản văn hóa của dân tộc mình; duy trì, phát triển các tập quán và sinh hoạt cộng đồng truyền thống; bồi đắp tư tưởng, tình cảm để họ tin tưởng hướng về một cuộc sống văn minh, tiến bộ nhưng thực sự giàu bản sắc, đủ sức đề kháng với các yếu tố văn hoá ngoại lai, không tiên tiến.
3. Cùng với thực hiện chính sách tôn giáo, một vấn đề khác cũng đặt ra khá cấp thiết là đấu tranh ngăn ngừa các loại tà đạo và tạp giáo. Ở Tây Nguyên gần đây xuất hiện hàng chục tà đạo, tạp giáo[2] mà điểm chung nhất đó là những tổ chức mượn tôn giáo làm bình phong nhưng chắp vá, pha tạp, không có một hệ thống giáo lý, lễ nghi nào đúng nghĩa; nó không những đối nghịch với các tôn giáo truyền thống mà còn có khuynh hướng lừa mị, lôi kéo, kích động ly khai, cực đoan, trái với đạo đức xã hội và gây phương hại đến phong tục tập quán của các dân tộc. Đáng lưu ý là một số tà đạo ngay từ khi manh nha hình thành đã có yếu tố chính trị, hoặc trong quá trình hoạt động đã bị FULRO lợi dụng để tập hợp lực lượng chống phá (như tà đạo “Hà Mòn”, “Amí Sara”, “Cây thập giá Chúa Jêsu Krits”, “Giáo hội Tin lành Đấng Christ Việt Nam”). Quan ngại là vẫn có một số người (kể cả cán bộ công chức ở địa phương, cơ sở) ngộ nhận rằng đấy là các loại hình tôn giáo chân chính xuất phát từ niềm tin của nhân dân. Sự ngộ nhận này góp phần làm cho việc đấu tranh ngăn chặn, xoá bỏ các loại tà đạo, tạp giáo chưa đồng bộ, nhất quán, dẫn tới việc phân loại để có đối sách xử lý tương ứng gặp khó khăn. Chính vì vậy, việc đề cao cảnh giác trước các hoạt động lợi dụng tôn giáo, chủ động phát hiện và xử lý ngay từ đầu sự nhen nhóm của các đối tượng này là một trong những yêu cầu của công tác bảo đảm an ninh chính trị vùng Tây Nguyên. Làm thế nào để quần chúng nhân dân nhận thức đầy đủ âm mưu, ý đồ của các thế lực thù địch, sự nguy hiểm và phức tạp của các loại tà đạo và tạp giáo để tự giác không nghe, không tin, không theo. Đó cũng chính là trách nhiệm, là yêu cầu của việc thực hiện chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo đúng đắn, nhất quán của Đảng và Nhà nước ta  hiện nay./.

                                                                                                                       BIỂN RỘNG



[1] Công giáo 844.192 người, Phật giáo 576.288 người, Tin lành 410.578 người,  Cao đài 20.555 người, các tôn giáo như: Bahai, Phật giáo Hòa hảo số lượng tín đồ rất ít.
[2] Như Tà đạo “Amí Sara”, “Giáo hội Tin lành Đấng Christ Việt Nam”, “Giáo hội Liên hữu Lutheran Việt Nam&Hoa Kỳ”, “Cây thập giá Chúa Jêsu Krits”, “Bơ Khắp Brâu”, “Ban cầu nguyện phong trào phục hưng Tin lành”, “Canh tân đặc sủng”, “Việt Nam Thánh Mẫu”, “Thanh Hải Vô thượng sư”, “Pháp luân công”.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét