HIỂU ĐÚNG NGUYÊN NHÂN CUỘC CHIẾN CHIẾN TRANH
BẢO VỆ BIÊN GIỚI PHÍA BẮC VIỆT NAM
BẢO VỆ BIÊN GIỚI PHÍA BẮC VIỆT NAM
Cuộc
chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc của Tổ quốc năm 1979 diễn ra trong bối cảnh
các mối quan hệ quốc tế, khu vực, đặc biệt là quan hệ giữa hai nước Việt Nam –
Trung Quốc hết sức phức tạp. Cuối những năm 1960, Mỹ bị sa lầy
trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, điều đó đã làm trầm trọng thêm sự
khủng hoảng về kinh tế, chính trị và xã hội, vị thế của Mỹ đã suy yếu trên
trường quốc tế. Lợi dụng sự suy yếu của Mỹ và chiều
hướng thay đổi chính sách đối ngoại của Chính quyền Nich-xơn, Trung Quốc đã bộc
lộ chính sách ngoại giao mới nhằm thoả hiệp với Mỹ. Tháng 2 năm 1972 Trung Quốc
đón Tổng thống Mỹ Nich-xơn sang thăm. Đây là một sự kiện quan trọng trong
lịch sử ngành ngoại giao hiện đại; đánh dấu sự thay đổi cục diện thế giới. Cuối những năm 1970, mối quan hệ Xô - Trung
rạn nứt nghiêm trọng. Ngày 01/11/1977, trong
một bài xã luận trên tờ Nhân dân Nhật báo của Trung Quốc đã gọi Liên Xô
như một kẻ thù nguy hiểm nhất của Trung Quốc, đồng thời coi Mỹ như là một đồng
minh, đồng thời Trung Quốc đòi quân đội Liên Xô phải hoàn toàn triệt thoái khỏi
Mông
Cổ, giảm số lượng các LL vũ trang trên tuyến biên giới Trung - Xô. Thắng lợi vĩ đại của dân tộc Việt Nam
trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là một sự kiện lịch sử có tầm quan
trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc, với thắng lợi mùa Xuân năm
1975 đã làm cho uy tín của Việt Nam ngày càng cao trên trường thế giới, trong
khi đó các thế lực thù địch và bọn phản động quốc tế coi đó là một thất bại
nghiêm trọng của họ. Sau thất bại trong cuộc chiến tranh xâm lược
Việt Nam, Mỹ tiến hành bao vây, cô lập, cấm vận toàn diện đối với Việt Nam; Tăng cường chi phối các nước trong khu
vực, thỏa hiệp với các nước lớn hòng thực hiện Chiến lược “Ban căng hóa Đông
Dương”. Ngược lại với Mỹ, Liên Xô đã coi chiến
thắng của Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là thắng lợi vĩ
đại của cách mạng XHCN, là biểu tượng sức mạnh to lớn của tinh thần quốc tế vô
sản. Trong thời điểm Mỹ thất bại thảm hại
trên chiến trường Việt Nam thì đối với Liên Xô đó lại là cơ hội, điều kiện để phát
triển kinh tế, kỹ thuật, vươn lên giành thế cân bằng chiến lược đối với Mỹ và
phương Tây.
Mối quan hệ đoàn kết, hữu nghị đặc biệt Việt Nam – Liên Xô lúc đó đã khiến các thế lực thù địch, phản động quốc tế lo sợ giảm thiểu vai trò quốc tế nên họ đã coi Việt Nam là tâm điểm chống phá. Sau khi miền Nam Việt Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước độc lập, thống nhất, cả nước bước vào thời kỳ xây dựng CNXH. Được sự chỉ đạo và giúp đỡ của các thế lực thù địch, phản động quốc tế, ngày 17/4/1975, sau khi đánh chiếm Thủ đô Phnôm pênh (CPC), Tập đoàn Pôn Pốt - Iêng Xary (Khơ me Đỏ) đã thực thi bước “đại nhảy vọt” bằng sự diệt chủng chưa từng có trong lịch sử đất nước CPC. Ngày 20/5/1975, Thường vụ Trung ương “Đảng Cộng sản” CPC đã quyết định 3 chủ trương cực kỳ phản động: (1) Làm sạch nội bộ nhân dân; (2) Xác định Việt Nam là kẻ thù số 1, kẻ thù truyền kiếp; (3) Xây dựng xã hội mới của CPC không giai cấp, không chợ búa, không tiền bạc, không trường học, không trí thức, không tôn giáo, không đô thị.
Với giấc mộng về một đế quốc Khơ me vĩ đại trong lịch sử, cùng sự kích động, hà hơi, tiếp sức của các thế lực thù địch, phản động bên ngoài, Khơ me Đỏ đã liên tục gây hấn, tạo cớ phát động chiến tranh xâm lược Việt Nam. Tháng 5/1975 Khơ-me Đỏ tấn công đánh chiếm đảo Phú Quốc và Thổ Chu, bắt đi hàng trăm dân thường Việt Nam, quan hệ Việt Nam - CPC ngày càng đi xấu đi.
Trong hai năm 1977-1978, được sự viện trợ đắc lực về vũ khí, khí tài và cố vấn quân sự của nước ngoài, Khơ-me Đỏ đã nhiều lần tấn công tiến sâu vào lãnh thổ Việt Nam, tàn sát hàng chục nghìn dân thường Việt Nam. Trước năm 1975, có khoảng 1,5 triệu người gốc Hoa sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam, 15% sống ở miền Bắc, 85% còn lại sinh sống ở miền Nam Việt Nam. Người Hoa thời điểm đó có ảnh hưởng rất lớn đối với nền kinh tế và xã hội ở miền Nam, Việt Nam và giữa Việt Nam - Trung Quốc thời điểm này không có bất đồng nào trong vấn đề người Hoa. Tháng 4 năm 1978, Việt Nam tiến hành cải tạo công thương nghiệp ở miền Nam.
Phản ứng lại chính sách cải tạo công thương nghiệp của Nhà nước Việt Nam, một phong trào đòi lấy quốc tịch Trung Quốc trong người Hoa ở Việt Nam nổi lên.Trung Quốc đưa ra chính sách "đoàn kết với giai cấp tư sản Hoa kiều", kêu gọi chống lại Việt Nam; Đồng thời, loan truyền trong cộng đồng người Việt gốc Hoa về một cuộc chiến tranh không thể tránh khỏi giữa VN - TQ, khiến cộng đồng người Hoa hoảng hốt. Ngay trong năm 1978, cộng đồng người Hoa ở V. Nam đã ồ ạt kéo về Trung Quốc.Tính đến thời điểm xảy ra cuộc đụng độ ở biên giới phía Bắc nước ta đã có khoảng 160.000 Hoa kiều hồi hương về Trung Quốc từ Việt Nam bằng đường biển hoặc đường bộ qua Cửa khẩu Hữu Nghị. Trong thời gian đó, Trung Quốc lập ra các trạm đón tiếp dọc theo biên giới hai nước; tháng 5 năm 1978, Trung Quốc đưa tàu sang đón người Hoa về Trung Quốc. Ngày 12 tháng 7 năm 1978, Trung Quốc bất ngờ đưa ra điều kiện, người Hoa muốn về Trung Quốc phải có giấy phép hồi hương do Đại sứ quán Trung Quốc ở Hà Nội cấp và phải có hộ chiếu xuất cảnh của chính quyền Việt Nam. Từ đó, Trung Quốc đóng cửa biên giới Việt Nam – Trung Quốc, làm cho hàng vạn người Hoa muốn đi Trung Quốc bị kẹt lại tại biên giới. Việc ra đi ồ ạt của người Hoa chuyên sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và hoạt động thương nghiệp làm tăng thêm tình trạng khan hiếm hàng hoá tiêu dùng, ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế Việt Nam. Với lý do cần kinh phí để hỗ trợ Hoa kiều hồi hương, tháng 5/1978, lần đầu tiên Trung Quốc tuyên bố cắt một phần viện trợ không hoàn lại đã ký cho Việt Nam và rút hết chuyên gia về nước. Ngày 22/12/1978, Trung Quốc ngừng tuyến xe lửa liên vận tới Việt Nam. Đầu tháng 01 năm 1979, đường bay Bắc Kinh - Hà Nội đã bị cắt. Trong thời điểm này, ông Đặng Tiểu Bình nổi lên và trở thành người lãnh đạo quyền lực nhất Trung Quốc. Trong vấn đề quan hệ với Việt Nam, Đặng Tiểu Bình cho rằng cách tốt nhất để nắm lấy cơ hội này là một hành động quân sự. Trong chuyến thăm các nước Đông Nam Á tháng 12/1978, tại cuộc trả lời phỏng vấn được Trung Quốc truyền hình trực tiếp, ông Đặng Tiểu Bình tuyên bố: "phải dạy cho Việt Nam bài học". Trong nước, sau giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Việt Nam là một quốc gia độc lập, thống nhất, dưới sự lãnh đạo của Đảng, cả nước bắt tay vào công cuộc hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng CNXH. Tuy nhiên, do hậu quả chiến tranh để lại quá lớn, hàng triệu người thất nghiệp, phải xây dựng lại hệ thống chính quyền mới, đồng ruộng hoang hóa do bom mìn, chất độc hóa học, cải tạo hàng triệu quân ngụy, hệ thống cơ sở hạ tầng lạc hậu, cùng với việc chậm đổi mới, dẫn đến tình trạng khó khăn chồng chất. Lợi dụng những khó khăn của Việt Nam lúc đó, Trung Quốc bất ngờ mở cuộc tiến công xâm lược trên toàn tuyến biên giới phía Bắc của VN.
Mối quan hệ đoàn kết, hữu nghị đặc biệt Việt Nam – Liên Xô lúc đó đã khiến các thế lực thù địch, phản động quốc tế lo sợ giảm thiểu vai trò quốc tế nên họ đã coi Việt Nam là tâm điểm chống phá. Sau khi miền Nam Việt Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước độc lập, thống nhất, cả nước bước vào thời kỳ xây dựng CNXH. Được sự chỉ đạo và giúp đỡ của các thế lực thù địch, phản động quốc tế, ngày 17/4/1975, sau khi đánh chiếm Thủ đô Phnôm pênh (CPC), Tập đoàn Pôn Pốt - Iêng Xary (Khơ me Đỏ) đã thực thi bước “đại nhảy vọt” bằng sự diệt chủng chưa từng có trong lịch sử đất nước CPC. Ngày 20/5/1975, Thường vụ Trung ương “Đảng Cộng sản” CPC đã quyết định 3 chủ trương cực kỳ phản động: (1) Làm sạch nội bộ nhân dân; (2) Xác định Việt Nam là kẻ thù số 1, kẻ thù truyền kiếp; (3) Xây dựng xã hội mới của CPC không giai cấp, không chợ búa, không tiền bạc, không trường học, không trí thức, không tôn giáo, không đô thị.
Với giấc mộng về một đế quốc Khơ me vĩ đại trong lịch sử, cùng sự kích động, hà hơi, tiếp sức của các thế lực thù địch, phản động bên ngoài, Khơ me Đỏ đã liên tục gây hấn, tạo cớ phát động chiến tranh xâm lược Việt Nam. Tháng 5/1975 Khơ-me Đỏ tấn công đánh chiếm đảo Phú Quốc và Thổ Chu, bắt đi hàng trăm dân thường Việt Nam, quan hệ Việt Nam - CPC ngày càng đi xấu đi.
Trong hai năm 1977-1978, được sự viện trợ đắc lực về vũ khí, khí tài và cố vấn quân sự của nước ngoài, Khơ-me Đỏ đã nhiều lần tấn công tiến sâu vào lãnh thổ Việt Nam, tàn sát hàng chục nghìn dân thường Việt Nam. Trước năm 1975, có khoảng 1,5 triệu người gốc Hoa sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam, 15% sống ở miền Bắc, 85% còn lại sinh sống ở miền Nam Việt Nam. Người Hoa thời điểm đó có ảnh hưởng rất lớn đối với nền kinh tế và xã hội ở miền Nam, Việt Nam và giữa Việt Nam - Trung Quốc thời điểm này không có bất đồng nào trong vấn đề người Hoa. Tháng 4 năm 1978, Việt Nam tiến hành cải tạo công thương nghiệp ở miền Nam.
Phản ứng lại chính sách cải tạo công thương nghiệp của Nhà nước Việt Nam, một phong trào đòi lấy quốc tịch Trung Quốc trong người Hoa ở Việt Nam nổi lên.Trung Quốc đưa ra chính sách "đoàn kết với giai cấp tư sản Hoa kiều", kêu gọi chống lại Việt Nam; Đồng thời, loan truyền trong cộng đồng người Việt gốc Hoa về một cuộc chiến tranh không thể tránh khỏi giữa VN - TQ, khiến cộng đồng người Hoa hoảng hốt. Ngay trong năm 1978, cộng đồng người Hoa ở V. Nam đã ồ ạt kéo về Trung Quốc.Tính đến thời điểm xảy ra cuộc đụng độ ở biên giới phía Bắc nước ta đã có khoảng 160.000 Hoa kiều hồi hương về Trung Quốc từ Việt Nam bằng đường biển hoặc đường bộ qua Cửa khẩu Hữu Nghị. Trong thời gian đó, Trung Quốc lập ra các trạm đón tiếp dọc theo biên giới hai nước; tháng 5 năm 1978, Trung Quốc đưa tàu sang đón người Hoa về Trung Quốc. Ngày 12 tháng 7 năm 1978, Trung Quốc bất ngờ đưa ra điều kiện, người Hoa muốn về Trung Quốc phải có giấy phép hồi hương do Đại sứ quán Trung Quốc ở Hà Nội cấp và phải có hộ chiếu xuất cảnh của chính quyền Việt Nam. Từ đó, Trung Quốc đóng cửa biên giới Việt Nam – Trung Quốc, làm cho hàng vạn người Hoa muốn đi Trung Quốc bị kẹt lại tại biên giới. Việc ra đi ồ ạt của người Hoa chuyên sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và hoạt động thương nghiệp làm tăng thêm tình trạng khan hiếm hàng hoá tiêu dùng, ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế Việt Nam. Với lý do cần kinh phí để hỗ trợ Hoa kiều hồi hương, tháng 5/1978, lần đầu tiên Trung Quốc tuyên bố cắt một phần viện trợ không hoàn lại đã ký cho Việt Nam và rút hết chuyên gia về nước. Ngày 22/12/1978, Trung Quốc ngừng tuyến xe lửa liên vận tới Việt Nam. Đầu tháng 01 năm 1979, đường bay Bắc Kinh - Hà Nội đã bị cắt. Trong thời điểm này, ông Đặng Tiểu Bình nổi lên và trở thành người lãnh đạo quyền lực nhất Trung Quốc. Trong vấn đề quan hệ với Việt Nam, Đặng Tiểu Bình cho rằng cách tốt nhất để nắm lấy cơ hội này là một hành động quân sự. Trong chuyến thăm các nước Đông Nam Á tháng 12/1978, tại cuộc trả lời phỏng vấn được Trung Quốc truyền hình trực tiếp, ông Đặng Tiểu Bình tuyên bố: "phải dạy cho Việt Nam bài học". Trong nước, sau giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Việt Nam là một quốc gia độc lập, thống nhất, dưới sự lãnh đạo của Đảng, cả nước bắt tay vào công cuộc hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng CNXH. Tuy nhiên, do hậu quả chiến tranh để lại quá lớn, hàng triệu người thất nghiệp, phải xây dựng lại hệ thống chính quyền mới, đồng ruộng hoang hóa do bom mìn, chất độc hóa học, cải tạo hàng triệu quân ngụy, hệ thống cơ sở hạ tầng lạc hậu, cùng với việc chậm đổi mới, dẫn đến tình trạng khó khăn chồng chất. Lợi dụng những khó khăn của Việt Nam lúc đó, Trung Quốc bất ngờ mở cuộc tiến công xâm lược trên toàn tuyến biên giới phía Bắc của VN.
Nguyên nhân
Thứ nhất, xuất phát từ chủ nghĩa dân tộc nước lớn của Trung Quốc, nó được che đậy bằng chủ nghĩa Mác - Lê nin, họ luôn muốn Việt Nam suy yếu, phụ thuộc để dễ thực hiện chính sách bành trướng. Khi thấy bị ngăn cản, không thực hiện được mục đích, Trung Quốc bằng các âm mưu, thủ đoạn, kể cả đẩy dân tộc CPC vào họa diệt chủng, xâm lược Việt Nam để đạt được mục đích của mình.
Thứ
hai, sự kiện Việt Nam giúp nhân dân CPC
thoát khỏi họa diệt chủng Khơ me Đỏ do Trung Quốc ủng hộ. Trung Quốc cho
rằng, Việt Nam đã theo hẳn Liên Xô và thực hiện các mục tiêu chiến lược, tăng
cường ảnh hưởng của Liên Xô ở Đông Dương nói riêng và khu vực Đông Nam Á, châu
Á - Thái Bình Dương nói chung.
Thứ
ba, lấy cớ Việt Nam xua đuổi người Hoa về
nước, đây là nguyên nhân gián tiếp. Trung Quốc đã sử dụng vấn đề này để ép Việt
Nam theo các chính sách của mình. Trước năm 1975,
Việt Nam có khoảng 1,5 triệu Hoa Kiều sinh sống (15% sống ở miền Bắc và 85%
sống ở miền Nam). Năm 1977 đã có
70.000 Hoa kiều từ Việt Nam quay về Trung Quốc. Cho đến thời điểm xảy ra cuộc
chiến đấu (2/1979) đã có chừng 160.000 Hoa kiều hồi hương bằng đường biển hoặc
đường bộ qua Cửa khẩu Hữu Nghị.
Vấn đề Hoa kiều là một thử thách đối với chủ quyền quốc gia.
Thứ nhất, xuất phát từ chủ nghĩa dân tộc nước lớn của Trung Quốc, nó được che đậy bằng chủ nghĩa Mác - Lê nin, họ luôn muốn Việt Nam suy yếu, phụ thuộc để dễ thực hiện chính sách bành trướng. Khi thấy bị ngăn cản, không thực hiện được mục đích, Trung Quốc bằng các âm mưu, thủ đoạn, kể cả đẩy dân tộc CPC vào họa diệt chủng, xâm lược Việt Nam để đạt được mục đích của mình.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét