Thứ Hai, 16 tháng 5, 2022

 

CHỦ ĐỘNG TỔ CHỨC VÀ ĐIỀU HÀNH CHIẾN DỊCH ĐÚNG ĐẮN,

SÁNG TẠO, KỊP THỜI XOAY CHUYỂN CỤC DIỆN CUỘC CHIẾN TRANH TRONG CUỘC TIẾN CÔNG CHIẾN LƯỢC XUÂN HÈ 1972

 

Hoa Súng

Giữa năm 1971, Quân ủy Trung ương họp, xác định chủ trương mở cuộc tiến công chiến lược trên chiến trường miền Nam trong năm 1972. Đầu năm 1972, khi thời cơ chiến lược ngày càng đến gần, Quân ủy Trung ương quyết định đánh địch bằng ba đòn chiến lược: Đòn tiến công của bộ đội chủ lực trên những hướng và chiến trường có lợi; đòn tiến công và nổi dậy ở các vùng nông thôn đồng bằng quan trọng; đòn tiến công của phong trào đấu tranh chính trị ở đô thị. Ngày 11-3-1972, Thường vụ Quân ủy Trung ương quyết định chính thức phương án tiến hành cuộc tiến công chiến lược năm 1972. Cụ thể: Chiến trường Trị-Thiên là hướng tiến công chiến lược chủ yếu; chiến trường Đông Nam Bộ và Tây Nguyên cùng với Khu 5 là hướng phối hợp. Quyết tâm đó được Bộ Chính trị thông qua ngày 23-3-1972. Theo đó, Chiến dịch Trị-Thiên được Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương xác định là một chiến dịch quy mô lớn, một chiến dịch hiệp đồng binh chủng, một chiến dịch tổng hợp cả về quân sự và chính trị, có nhiệm vụ quan trọng là tiêu diệt lực lượng quân sự địch, nhất là quân chủ lực và phương tiện chiến tranh, làm cho lực lượng đối phương bị tổn thất nặng nề, phương tiện, tinh thần chiến đấu suy sụp, làm thay đổi so sánh lực lượng có lợi cho ta. Phương châm chỉ đạo chiến dịch là: Phải nắm thật vững vấn đề đánh tiêu diệt, không cho địch co cụm lớn; phối hợp chặt chẽ giữa các hướng, giữa đòn tiến công quân sự với nổi dậy của quần chúng và đòn binh vận. Đối với chỉ huy tác chiến: Phải kiên quyết, chủ động, cơ động linh hoạt, chắc thắng nhưng rất táo bạo; vừa tiêu diệt, vừa làm tan rã địch, lấy tiêu diệt là chủ yếu; tiêu diệt địch và phá vỡ phòng tuyến địch có trọng điểm, đồng thời đánh thọc sâu táo bạo; kết hợp tiến công quân sự với nổi dậy của quần chúng để làm đảo lộn thế trận của địch; luôn luôn có lực lượng dự bị mạnh, có vật chất dự trữ, phát huy sức cơ động của bộ đội; vừa tác chiến, vừa củng cố.

Để đủ sức thực hiện và hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ chiến lược, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng chủ động tập trung một khối binh lực lớn trên hai hướng Quảng Trị và Thừa Thiên (quân số khoảng hơn 4 sư đoàn). Tháng 6 và tháng 7-1972, Bộ Quốc phòng tiếp tục điều động Sư đoàn 320, Sư đoàn 312 và Sư đoàn 325 vào tăng cường cho chiến trường Quảng Trị. Đây là những sư đoàn chủ lực có sức mạnh lớn, khả năng cơ động nhanh đã được rèn luyện, trưởng thành qua thực tiễn. Nhiệm vụ của các khối chủ lực được Bộ Chính trị nhấn mạnh: Tiêu diệt một số sư đoàn chủ lực ngụy, đồng thời đến lúc nào đó sẽ tập trung phát huy sức mạnh của quả đấm chủ lực cùng với lực lượng địa phương đẩy mạnh tấn công và nổi dậy đánh bại âm mưu bình định của địch, thúc đẩy phong trào thành thị thành cao trào. Với khối binh lực mạnh đó, quân và dân ta bất ngờ tiến công, phá tan hệ thống phòng ngự kiên cố, vững chắc của địch, làm chủ chiến trường ngay từ đầu chiến dịch.

Phát huy sức mạnh tổng hợp ba thứ quân, lực lượng vũ trang địa phương, được tăng cường một số đơn vị chủ lực, chủ động luồn sâu, vu hồi đánh chia cắt chiến dịch, gây rối loạn sau lưng địch, diệt ác, phá kìm, hỗ trợ cho quần chúng nổi dậy đấu tranh, góp phần vào thắng lợi. Hoạt động của lực lượng vũ trang địa phương khiến địch rối loạn, rút bỏ hàng loạt căn cứ, như: Dốc Miếu, Quán Ngang, Bến Ngự, Cửa Việt... tạo điều kiện cho quần chúng nổi dậy giải phóng hai huyện Gio Linh và Cam Lộ. Ở hai huyện Triệu Phong và Hải Lăng, lực lượng vũ trang địa phương phối hợp với Trung đoàn 27 và một bộ phận bộ binh cơ giới mở mũi vu hồi thọc sâu, vừa tiêu diệt địch chia cắt chiến dịch, vừa diệt ác phá kìm, hỗ trợ cho quần chúng nhân dân nổi dậy, góp phần giải phóng hoàn toàn vùng đồng bằng Quảng Trị. Sau khi giải phóng Quảng Trị, lực lượng vũ trang địa phương (Tiểu đoàn 3 và Tiểu đoàn 8 của Quảng Trị và lực lượng an ninh vũ trang, tự vệ của thị xã) đã phối hợp với bộ đội chủ lực kiên cường chiến đấu chốt giữ các mục tiêu phòng ngự, các trận địa, đánh bại các đợt tiến công của địch.

Trải qua gần 3 tháng tiến công liên tục (ngày 30-3 đến 27-6-1972), Chiến dịch tiến công Trị-Thiên giành được thắng lợi. Kết quả, chỉ tính riêng Mặt trận Trị-Thiên, ta đã tiêu diệt 83.790 tên, bắt 3.685 tên, thu và phá hủy 922 khẩu pháo các loại, 1.181 xe tăng, bắn rơi 714 máy bay, phá hủy nhiều kho tàng, vũ khí, trang bị của địch. Thắng lợi của chiến dịch có ý nghĩa chiến lược, toàn diện, lần đầu tiên giải phóng hoàn toàn một tỉnh ở miền Nam, tiêu diệt một bộ phận quan trọng lực lượng chủ lực cơ động của địch. Chiến dịch tiến công Trị-Thiên và giải phóng Quảng Trị đánh dấu bước phát triển của lực lượng vũ trang miền Nam trong tác chiến hiệp đồng binh chủng quy mô lớn. Đồng thời, từng binh chủng đã phát huy tối đa khả năng, sở trường của mình, tạo ra sức đột kích mạnh, tốc độ tiến công nhanh, có khả năng thực hiện thọc sâu, chia cắt, hình thành những mũi vu hồi lợi hại. Từ Chiến dịch tiến công Trị-Thiên đặt ra yêu cầu về tổ chức chỉ huy, phải kịp thời phát triển quy mô, tổ chức phù hợp với quy mô tác chiến. Thực tiễn trong những năm 1973-1975, các quân đoàn 1, 4, 2, 3 được thành lập để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975.

Để đáp ứng nhiệm vụ bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới, vận dụng bài học lịch sử từ cuộc tiến công chiến lược năm 1972, nhất là kinh nghiệm về tổ chức và điều hành chiến dịch, trong đó có sử dụng và phát huy sức mạnh tác chiến hiệp đồng binh chủng, Quân đội nhân dân Việt Nam được xây dựng theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, có tổ chức biên chế hợp lý về số lượng, bảo đảm về chất lượng, hiệu quả trong chiến đấu. Việc tổ chức biên chế, cơ cấu lực lượng quân binh chủng được xây dựng cẩn trọng, khoa học, đồng bộ, phù hợp với điều kiện thực tiễn, có thể phát huy tối đa được sức mạnh tổng hợp trong mọi tình huống. Cán bộ, chiến sĩ toàn quân luôn chủ động, tích cực học tập nâng cao trình độ mọi mặt, nhận thức rõ đường lối quân sự của Đảng, yêu cầu nhiệm vụ cách mạng, nhiệm vụ của quân đội; cảnh giác trước âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, phi chính trị hóa quân đội. Các cơ quan, đơn vị trong toàn quân thực hiện ba đột phá, tạo sự chuyển biến về tổ chức, biên chế; huấn luyện và đào tạo; xây dựng chính quy, chấp hành kỷ luật, pháp luật của bộ đội và cải cách hành chính quân sự; coi trọng huấn luyện đồng bộ, chuyên sâu, sát thực tế chiến đấu./.

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét