Thứ Hai, 16 tháng 5, 2022

 

TA CHỦ ĐỘNG KẾT HỢP HIỆU QUẢ GIỮA CÁC MẶT ĐẤU TRANH CHÍNH TRỊ, QUÂN SỰ, NGOẠI GIAO, TẠO NÊN SỨC MẠNH

TỔNG HỢP GIÀNH THẮNG LỢI

Trung Lập

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ba mặt trận quân sự, chính trị và ngoại giao có quan hệ mật thiết, tác động lẫn nhau, hỗ trợ cho nhau, cùng thúc đẩy sự nghiệp cách mạng phát triển mạnh mẽ đến thắng lợi. Ban Chấp hành Trung ương Đảng chỉ rõ: “Đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị ở miền Nam là nhân tố chủ yếu quyết định thắng lợi trên chiến trường, làm cơ sở cho thắng lợi trên mặt trận ngoại giao. Chúng ta chỉ có thể giành được trên bàn hội nghị những cái mà chúng ta đã giành được trên chiến trường”[1]. Ngày 30-3-1972, cuộc tiến công chiến lược bắt đầu diễn ra và ngày càng quyết liệt. Song tại Paris, cuộc đấu tranh ngoại giao của ta vẫn đang trong giai đoạn bế tắc, đế quốc Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn ngoan cố đòi hỏi những điều khoản có lợi cho chúng. Vì vậy, để thúc đẩy và giành được một giải pháp vững chắc trên bàn đàm phán, Ban Chấp hành Trung ương Đảng chủ trương đẩy mạnh hơn nữa tiến công trên mặt trận quân sự, đặc biệt phải giành cho được thắng lợi lớn trong tháng 5 và tháng 6-1972.

Với vai trò là hướng tiến công chiến lược chủ yếu, Mặt trận Trị-Thiên có nhiệm vụ hết sức nặng nề, vừa phải phối hợp tác chiến nhịp nhàng, chặt chẽ với các chiến trường khác để đạt được mục tiêu chiến lược đề ra, vừa phải phục vụ nhiệm vụ chính trị, kết hợp với đấu tranh ngoại giao để giành thắng lợi trên bàn đàm phán. Thực hiện chủ trương của trên, từ cuối tháng 4-1972, Chiến dịch tiến công Trị-Thiên được đẩy mạnh và ngày 2-5-1972, quân và dân ta đã giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Trị.

Cùng thời gian đó, các Chiến dịch tiến công Bắc Tây Nguyên, Chiến dịch tiến công Nguyễn Huệ thực hiện được một phần cơ bản ý định chiến lược, góp phần làm thay đổi cục diện chiến trường. Những thắng lợi liên tiếp của quân và dân miền Nam đã cổ vũ quân và dân miền Bắc chiến đấu và giành thắng lợi trong cuộc đọ sức với đế quốc Mỹ trong trận “Điện Biên Phủ trên không” cuối năm 1972. Điều kiện và thời cơ cho cuộc đấu tranh trên bàn đàm phán tại Hội nghị Paris của ta ngày càng chín muồi.

Phát huy thắng lợi trên chiến trường, Bộ Chính trị đẩy mạnh đấu tranh ngoại giao trên bàn Hội nghị Paris, buộc Mỹ phải đàm phán theo hướng giải quyết toàn bộ vấn đề về chiến tranh Việt Nam. Ngày 27-1-1973, chính quyền Mỹ buộc phải ký kết hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Hiệp định Paris được ký kết là thành quả rực rỡ của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại, của cuộc đấu tranh, đấu trí kiên quyết, sáng tạo trên ba mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao.

Bài học kinh nghiệm được rút ra là ba mặt đấu tranh quân sự, chính trị và ngoại giao đều có vai trò quan trọng, quan hệ mật thiết, thúc đẩy, tác động lẫn nhau hướng tới mục tiêu giành thắng lợi hoàn toàn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Trong điều kiện đối tượng, đối tác đan xen như hiện nay, vận dụng bài học kinh nghiệm về chỉ đạo chiến tranh với tinh thần độc lập tự chủ, đúng đắn, sáng tạo của Đảng ta trong cuộc tiến công chiến lược năm 1972 đặt ra yêu cầu phải có sự chỉ đạo chủ động quyết đoán, kịp thời, phối hợp nhịp nhàng giữa ba mặt đấu tranh quân sự, chính trị, ngoại giao để đạt được mục tiêu chiến lược. Sự phối hợp giữa ba mặt đấu tranh được thể hiện ở giữ vững ổn định về chính trị kết hợp với xây dựng tiềm lực an ninh, quốc phòng vững chắc và đẩy mạnh hội nhập quốc tế, trong đó có đối ngoại quốc phòng. Đối ngoại quốc phòng có nhiệm vụ: “Đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ hợp tác song phương với các đối tác, đặc biệt là các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện và các đối tác quan trọng khác, tạo thế đan xen lợi ích và tăng độ tin cậy. Chủ động, tích cực tham gia các cơ chế đa phương về quốc phòng, an ninh theo tư duy mới về bảo vệ Tổ quốc”[2].

Thắng lợi của cuộc tiến công chiến lược 1972 và giải phóng Quảng Trị là một minh chứng tiêu biểu thể hiện năng lực lãnh đạo nhạy bén, sắc sảo của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng, sự sáng tạo, quyết đoán của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng trong quá trình phân tích, nắm bắt thời cơ cũng như khi triển khai và điều hành chiến dịch, chọn hướng tiến công chiến lược, sử dụng lực lượng và hình thức tác chiến thích hợp để giành được thắng lợi. Thắng lợi của hướng tiến công chiến lược Trị-Thiên và giải phóng Quảng Trị cùng với những thắng lợi quân sự trong năm 1972 đã làm thay đổi cục diện chiến tranh, “đánh cho Mỹ cút”, tạo điều kiện, thời cơ tiến lên “đánh cho ngụy nhào” giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Những bài học kinh nghiệm rút ra từ cuộc tiến công chiến lược 1972 vẫn còn nguyên giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, cần được tiếp tục vận dụng linh hoạt, hiệu quả trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay./.


[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 28, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, tr.174.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.163.

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét