ĐẤU TRANH, PHẢN BÁC CÁC LUẬN
ĐIỆU XUYÊN TẠC
VỀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG VÀ
NHÀ NƯỚC TA
TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC
Trong những năm qua, Đảng và Nhà
nước đã triển khai đồng bộ nhiều chủ trương, chính sách, dự án lớn nhằm thực
hiện nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, cùng phát triển, do đó đã đạt
được nhiều kết quả to lớn, những chuyển biến tích cực, làm thay đổi đáng kể
diện mạo vùng miền núi và vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn của đất
nước, từ đó, đường lối đổi mới từng bước đi vào cuộc sống của đồng bào các dân
tộc thiểu số. Tuy nhiên, chúng ta cũng cần nhận diện những khó khăn, thách thức
không nhỏ đang đặt ra trong quá trình thực hiện chính sách dân tộc mà Việt Nam
phải đối mặt. Những thách thức đó xuất hiện do những hạn chế trong quá trình
thực hiện chính sách dân tộc. Bên cạnh đó, sự nghiệp phát triển đất nước về mọi
mặt cũng đặt ra những đòi hỏi khách quan, phải phát triển với tốc độ cao hơn,
nhanh hơn, mạnh mẽ hơn, toàn diện hơn, trong khi khả năng và điều kiện thực tế
của các vùng miền núi chưa kịp đáp ứng, đây chính là thách thức rất lớn.
Lợi dụng điều này, các thế lực thù địch, phản
động đưa ra một số luận điệu xuyên tạc vai trò lãnh đạo của Đảng, về chính sách
đối với các dân tộc thiểu số và miền núi. Chúng phát tán thông tin cho rằng “do
vai trò lãnh đạo độc tôn của Đảng Cộng sản Việt Nam” nên “song song với những
công trạng họ lập được, Đảng Cộng sản đã vấp phải quá nhiều sai lầm gây nên hậu
quả cho đất nước như nạn tham ô, tham nhũng, chạy chức chạy quyền, kinh tế lạc
hậu...”; chúng cho rằng “trong nền kinh tế thị trường, vấn để tính đảng không
cần nữa, không còn ý nghĩa nữa, vì vậy không cần tới sự lãnh đạo của Đảng Cộng
sản Việt Nam nữa”; chúng rêu rao, Đảng không được sự ủng hộ của Nhân dân, từ đó
đi tới phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với đất nước; lợi
dụng tình trạng dư luận xã hội bức xúc về tệ nạn tham nhũng, về sự suy thoái
của một số cán bộ, đảng viên để quy kết khuyết điểm, sai lầm, tiêu cực trong xã
hội cho Đảng; lợi dụng việc một số cán bộ cấp cao bị kỷ luật do vi phạm các
nguyên tắc của Đảng để coi đó là mất đoàn kết, thống nhất trong Đảng; thổi
phồng một số hạn chế, bất cập về mô hình tổng thể của tổ chức bộ máy thuộc hệ
thống chính trị chưa được hoàn thiện, một số bộ phận, lĩnh vực chưa phù hợp với
yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ mới để phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng.
Những năm qua, xuyên tạc lý
tưởng cách mạng, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam với sự
nghiệp cách mạng là các vấn đề nổi lên hàng đầu trong hoạt động chống phá do
các thế lực thù địch cùng một số tổ chức, cá nhân phản động tiến hành. Vì thế,
chúng ta cần cảnh giác, tích cực đấu tranh vạch trần bác bỏ các luận điệu xuyên
tạc, qua đó luôn khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng trong cuộc đấu tranh với
các luận điệu sai trái, thù địch để bảo vệ sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng,
toàn dân.
Chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định
vai trò lãnh đạo Đảng Cộng sản trong các giai đoạn cách mạng, đặc biệt là giai
đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đảng Cộng sản là bộ phận lãnh đạo hệ thống
chính trị, lãnh đạo Nhà nước và xã hội bằng việc đề ra chủ trương, đường lối,
cương lĩnh, chiến lược, sách lược. Để đáp ứng yêu cầu khách quan, cấp bách
trong tình hình hiện nay, trên tinh thần đổi mới tư duy được Đảng ta khảng định
từ Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ VI (12-1986), năm 1989, Bộ Chính trị
(khóa VI) đã ban hành Nghị quyết số 22-NQ/TW “Về một số chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế-xã hội miền núi”
thể hiện nhận thức mới và quyết tâm của Đảng và Nhà nước ta, lãnh đạo nhân dân
thực hiện thành công chính sách dân tộc trong điều kiện mới. Ngày 13/3/1990,
Quyết định số 72/HĐBT “Về một số chủ
trương, chính sách cụ thể phát triển kinh tế - xã hội miền núi” đã một lần
nữa cụ thể hóa chính sách dân tộc của Đảng, trở thành nguyên tắc phương pháp
luận, là cơ sở quan trọng để giải quyết vấn đề dân tộc, hoạch định chính sách
dân tộc và tổ chức thực hiện chính sách dân tộc có hiệu quả trong toàn bộ sự
nghiệp đổi mới đất nước. Trong đó, tập trung vào các nội dung sau:
Thứ nhất, nhận thức rõ về vị trí, vai trò,
phạm vi tác động của chính sách dân tộc. Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, bao gồm 54 tộc người cùng
sinh sống, trong đó người Kinh là dân tộcđa số, chiếm tỷ lệ lớn nhất trong dân
cư nước ta (87%), các tộc người còn lại gọi là thiểu số. Trong suốt quá trình
lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn nhất quán quan điểm chính sách dân tộc là một
trong những công cụ, phương tiện cần thiết của quản lý nhà nước. Trong mối quan
hệ đó, chủ thể quản lý, hoạch định chính sách là Đảng và Nhà nước; nhân dân là
đối tượng thụ hưởng và là chủ thể tham gia xây dựng chính sách và tổ chức thực
hiện chính sách. Vì vậy, nhân dân các dân tộc có vị thế rất quan trọng trong
các công đoạn, từ xây dựng, hoạch định chính sách đến khâu tổ chức thực hiện,
kiểm tra, giám sát và đánh giá hiệu quả của chính sách dân tộc.
Chính
sách dân tộc đảm bảo các quyền cơ bản và quyền lợi chính đáng của nhân dân, đảm
bảo an sinh xã hội, thực hiện dân quyền và dân chủ nhân dân. Vì vậy, chính sách
dân tộc tác động đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội của các tộc người sinh
sống trên đất nước ta. Các tộc người,không phân biệt đa số hay thiểu số, đều là
đối tượng điều chỉnh, tác động của chính sách dân tộc; đều được thụ hưởng các
lợi ích, thành quả do chính sách dân tộc mang lại; đều có quyền và trách nhiệm
xây dựng, bổ sung, xây dựng chính sách dân tộc; đều có nghĩa vụ chấp hành và
thực hiện nghiêm chỉnh chính sách dân tộc. Chính vì vậy, chính sách dân tộc có
tầm quan trọng đặc biệt, có ý nghĩa sống còn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc.
Thứ hai, về nội dung của chính sách dân tộc. Ở tầm vĩ mô, chính sách dân tộc
là chính sách quốc gia, là tổng hợp của mọi chủ trương, đường lối, pháp luật và
hệ thống các chính sách đối nội của Nhà nước, hay nói cách khác, chính sách dân
tộc là chính sách đối nội, nhằm phát triển dân tộc. Từ đó, chính sách dân tộc
tạo thành cơ sở, định hướng chiến lược cho chính sách đối ngoại, khai thác và
tận dụng được các ngoại lực, góp phần thúc đẩy nội lực, đưa các dân tộc trong
nước phát triển và cùng với cộng đồng các dân tộc trong khu vực và trên thế
giới hướng tới sự đoàn kết, ổn định, phồn thịnh và hợp tác trên nguyên tắc công
bằng, bình đẳng, phát triển bền vững.
Với đặc điểm là quốc gia đa tộc
người, đòi hỏi chính sách dân tộc phải hướng tới mục tiêu phục vụ sự phát triển
của tất cả các tộc người, không phân biệt trình độ kinh tế, xã hội, nên chính
sách dân tộc phải là sự cụ thể hóa chính sách phát triển quốc gia dân tộc trên
từng lĩnh vực, được vận dụng phù hợp với điều kiện cụ thể của từng tộc người,
từng vùng miền. Tuy nhiên, thực tiễn thì chính sách dân tộc được thể hiện trên
hai cấp độ là cấp quốc gia và cấp độ địa phương, trong đó sẽ có những chính
sách của trung ương, với đường lối, quan điểm và chỉ đạo thực hiện áp dụng trên
phạm vi toàn quốc và những chính sách của địa phương áp dụng trong phạm vi cấp
tỉnh, thành phố và đơn vị cơ sở. Đây chính là một trong những nguyên nhân dẫn
đến tình trạng thiếu thống nhất hoặc phát sinh những vấn đề phức tạp trong quá
trình thực hiện chính sách dân tộc. Có thể kể đến những vấn đề như: nguồn vốn
phân bổ cho các địa phương; các điều kiện, cơ hội tiếp cận với nguồn lực; quá
trình thực hiện các chính sách cụ thể liên quan đến kinh tế, chính trị, văn
hóa, xã hội…Vì vậy, chính sách dân tộc luôn phải toàn diện, đa dạng, giữ vững
nguyên tắc thống nhất, đáp ứng yêu cầu phát triển và khả năng thực tế của các
địa phương trong cả nước.
Chính sách dân tộc luôn mang
tính chất toàn diện, rộng lớn và đa dạng, chính vì vậy, mọi chủ trương, đường
lối, biện pháp chỉ đạo thực hiện liên quan đến sự phát triển tộc người đều phải
được nghiên cứu một cách khách quan và phù hợp với thực tiễn. Đây là một đòi
hỏi khách quan do thực tiễn đặt ra trong quá trình thực hiện chính sách dân
tộc. Nhận thức rõ điều đó, trong thời kỳ đổi mới đất nước, Đảng ta luôn nhận
thức đúng vị trí, tầm quan trọng của chính sách dân tộc cả về lý luận và thực
tiễn, thể hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng và Nhà nước ta. Tuy nhiên, để triển
khai tổ chức thực hiện chính sách có hiệu quả, hạn chế đến mức tối đa những hạn
chế, tồn tại, cần phải giải quyết một số vấn đề căn bản sau:
Một là, chính sách dân tộc cần nhận thức rõ vai trò của nguồn lực con
người đối với các dân tộc thiểu số. Đối với vùng dân tộc thiểu số hiện nay,
nhân lực là nguồn lực quan trọng nhất, là chủ thể để khai thác, phát huy thế
mạnh của các nguồn lực khác, như vốn, tài nguyên…So với các điều kiện chung,
chất lượng nguồn nhân lực ở các vùng dân tộc còn thấp, vẫn còn tình trạng mù
chữ, văn hóa tiểu học, trình độ dân trí thấp. Đây chính là thách thức to lớn và
là nguyên nhân vì sao đầu tư lớn mà hiệu quả mang lại thấp? đây cũng trở thành
nguồn cơn cho nhiều luận điệu xuyên tạc của thế lực thù địch. Để giải quyết vấn
đề này, chính sách dân tộc mới cần điều chỉnh nội dung, điều chỉnh các khoản
much đầu tư, tập trung đào tạo và đào tạo lại nguồn nhân lực có chất lượng,
toàn diện và có tầm nhìn chiến lược hơn.
Hai là, chính sách dân tộc cần chú ý đến sự phát huy tính chủ động,
sáng tạo của các địa phương. Phát huy tính chủ động, sáng tạo của các địa
phương là vấn đề có tính cấp bách hiện nay đang đặt ra trong thực tiễn phát
triển đất nước. Giải quyết vấn đề nội lực chính là biện pháp đúng đắn, khắc
phục tình trạng thụ động, trông chờ của hệ thống chính trị địa phương đối với
trung ương. Khi kết hợp được yếu tố ngoại lực – chính sách đầu tư của Nhà nước,
với yếu tố nội lực – thế mạnh của địa phương, thì mục tiêu chung sẽ hoàn thành
tốt. Khi thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ của Đảng đề ra, cần phải vận dụng phù hợp
vào thực tiễn đa dạng, phong phú nhưng cũng đầy phức tạp của mỗi vùng, miền,
dân tộc. Đặc biệt, đối với các tộc người thiểu số, yếu tố phong tục, tập quán,
nếp sống riêng, đòi hỏi sự đổi mới phương pháp và cách thức thực hiện chính
sách sao cho phù hợp với nguyện vọng và mang lại lợi ích thiết thực cho đồng
bào
Ba là, cần tiến hành tổng kết, đánh giá toàn
diện quá trình thực hiện chính sách dân tộc trong thời gian qua, để có những
điều chỉnh phù hợp với tình hình chung. Đây là một đòi hỏi khách quan do thực tiễn đổi mới chính sách
dân tộc và đổi mới phương thức thực hiện chính sách dân tộc đặt ra, để khẳng
định những thành tựu và hạn chế, từ đó phát huy những thành tựu đạt được, khắc
phục những hạn chế và tìm ra những giải pháp phát triển cho những giai đoạn
sau. Bằng nhiều hội nghị, chương trình,các công trình nghiên cứu khác nhau
trong suốt thời gian dài, chính sách dân tộc luôn được các nhà nghiên cứu đánh
giá một cách thường xuyên, nghiêm túc.
Thực hiện
Nghị quyết 22-NQ/TW và Quyết định 72-QĐ/HĐBT, đã thực hiện đồng bộ chính sách
dân tộc trên cả 4 phương diện: nhằm mục tiêu giữ vững ổn định chính trị; khắc
phục khủng hoảng kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo; khắc phục tình trạng mù
chữ, tái mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học ở vùng dân tộc thiểu số. Sau 10
năm thực hiện, về cơ bản đã đạt được mục tiêu đề ra, tuy nhiên, vẫn còn nhiều
tồn tại cần khắc phục, do cả yếu tố chủ quan và khách quan tác động. Do xuất
phát điểm của hầu hết các dân tộc thiểu số đều thấp, nên vấn đề tụt hậu, chênh
lệch khoảng cách về kinh tế - xã hội có chiều hướng gia tăng, vì vậy, để khắc
phục tình hình đó, Đảng và Nhà nước đã chủ trương phải đổi mới tiêu chí đánh
giá, chia các vùng dân tộc thành 3 khu vực theo trình độ phát triển và xác định
tập trung đầu tư phát triển cho khu vực III (khu vực đặc biệt khó khăn).
Từ năm 1998 đến nay, chính sách
dân tộc tập trung đầu tư, khơi dậy tiềm năng, phát huy thế mạnh, phát triển các
vùng dân tộc, lấy chương trình 135 làm trung tâm, đáp ứng yêu cầu thực tiễn
khách quan của vùng dân tộc, vùng khó khăn. Tuy nhiên,hiệu quả mang lại chưa
cao, chưa phát huy được yếu tố nội lực của đồng bào các dân tộc địa phương,
hoặc đầu tư chưa đủ mức, chưa tạo cơ hội thực sự để đông bào có thể tự vươn
lên, từ đó, nảy sinh những mâu thuẫn trong cộng đồng cũng như tâm lý tộc
người.
Đứng trước những luận điệu xuyên
tạc của các thế lực thù địch, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt
Nam, đánh giá thấp hiệu quả chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta, chúng
ta cần phải khẳng định vị trí lãnh đạo tuyệt đối quan trọng của Đảng Cộng sản
Việt Nam thông qua đường lối, chính sách đúng đắn, phù hợp và qua thực tiễn
trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, từ đó, xây dựng và nâng cao năng
lực lãnh đạo của Đảng trong giai đoạn hiện nay, mang lại niềm tin cho nhân dân
vào thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong thời gian tới./.
Điệp Phong
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét