KẺ THÙ XUYÊN TẠC,
VU CÁO NHÀ NƯỚC TA
CAN THIỆP VÀO
CÔNG VIỆC NỘI BỘ CỦA TÔN GIÁO
HOA SÚNG
Mỗi khi Nhà nước ta bổ sung hoặc ban hành những văn bản
pháp luật mới để điều chỉnh về hoạt động tôn giáo cho phù hợp với tình hình
kinh tế - xã hội của đất nước, phù hợp với tâm tư, tình cảm, nhu cầu tín ngưỡng
của tín đồ thì họ lại dấy lên chiến dịch đòi bãi bỏ các văn bản pháp luật này
hoặc xuyên tạc, tìm cách ngăn cản chức sắc, tín đồ thực hiện. Luận điệu của họ
là tôn giáo phải độc lập với Nhà nước, không chịu sự quản lý của Nhà nước. Họ
tâng bốc, ca ngợi tự do tôn giáo ở các nước tư bản, tôn giáo được tự do hoạt
động, chính quyền không can thiệp vào các hoạt động tôn giáo, vì đây là quyền
tự do của công dân. Những luận điệu này đã làm cho không ít tín đồ các tôn giáo
hoài nghi chính sách, pháp luật tôn giáo của Đảng, Nhà nước. Nhiều người ngộ
nhận cho rằng tất cả các hoạt động tôn giáo đều không phải xin phép chính
quyền; thậm chí có những hành vi chống lại việc thực hiện các chính sách, pháp
luật về tôn giáo của Đảng, Nhà nước. Hoạt động tôn giáo không cần sự quản lý
nhà nước là một luận điểm hoàn toàn sai trái, không đúng cả trên phương diện lý
luận và thực tiễn. Trước hết, tổ chức tôn giáo là một tổ chức mang tính xã hội,
mà đã là một tổ chức thì ở bất cứ quốc gia nào khi thành lập, hoạt động đều
phải chịu sự quản lý của Nhà nước. Khi chưa được cơ quan nhà nước công nhận
cũng có nghĩa là tổ chức đó chưa có tư cách pháp nhân. Khi đã có tư cách pháp
nhân, tổ chức đó hoạt động phải tuân thủ các quy định pháp luật, chịu trách
nhiệm trước pháp luật về hoạt động của mình. Hoạt động tôn giáo không chỉ thuần
túy nhằm thoả mãn nhu cầu tinh thần của tín đồ, chức sắc nhà tu hành, mà còn
liên quan đến các lĩnh vực đời sống xã hội. Ví như việc xây dựng nơi thờ tự,
không chỉ đơn thuần là việc củng cố, phát triển cơ sở vật chất của giáo hội, mà
còn liên quan đến những quy định của Nhà nước về đất đai, quy hoạch, xây dựng;
hoạt động in ấn kinh bổn, sản xuất đồ dùng việc đạo, liên quan đến những quy
định về văn hoá, xuất bản; hoạt động quan hệ với các tổ chức, cá nhân tôn giáo
nước ngoài liên quan đến chính sách, pháp luật trên lĩnh vực đối ngoại, xuất
nhập cảnh của Nhà nước, hoạt động đào tạo chức sắc liên quan đến Luật Giáo
dục... Mọi hoạt động của các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, xã hội và mọi
công dân liên quan đến các lĩnh vực đời sống xã hội đều phải tuân thủ pháp luật
của Nhà nước. Tôn giáo và hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng ở bất kỳ quốc gia nào
cũng không thể đứng ngoài pháp luật của quốc gia đó. Luật pháp quốc tế và của
nhiều quốc gia đều quy định quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo là một quyền cơ bản
của công dân, nhưng vẫn phải chịu sự điều chỉnh của nhà nước. Các công ước quốc
tế về nhân quyền đều quy định: các quốc gia phải tôn trọng quyền tự do tín
ngưỡng, tôn giáo, song các quyền này vẫn phải giới hạn bởi pháp luật của nhà
nước. Công ước quốc tế về Các quyền dân sự và chính trị được Liên hợp quốc phê
chuẩn ngày 16/12/1966, trong đó Điều 18 ghi rõ: “Mọi người đều có quyền tự do
tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo”. Tuy nhiên, quyền tự do này vẫn “bị giới hạn
bởi những quy định của pháp luật và những giới hạn này là cần thiết cho việc
bảo vệ an toàn, trật tự công cộng, sức khoẻ hoặc đạo đức của công chúng hoặc
những quyền tự do cơ bản của người khác”... Các quốc gia trên thế giới đều quan
tâm đến công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo. Tại các nước phát
triển, tôn giáo cũng phải tuân thủ pháp luật, chịu sự quản lý của nhà nước.
Luật pháp của nhiều nước đã có những quy định về tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Ở
nước ta, quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo đã được hình thành từ các triều
đại phong kiến. Từ khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, Đảng và Nhà nước
ta đã xác định quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo là một nhiệm vụ quan
trọng trong quản lý nhà nước. Đến nay, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản
quy phạm pháp luật điều chỉnh những quan hệ xã hội liên quan đến tôn giáo và
hoạt động tôn giáo. Pháp luật về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trở thành một
bộ phận không thể thiếu trong hệ thống pháp luật của nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam. Công tác quản lý nhà nước trên lĩnh vực tôn giáo ngày càng được
củng cố, hoàn thiện, góp phần quan trọng bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn
giáo của nhân dân, đoàn kết đồng bào các tôn giáo trong khối đại đoàn kết dân
tộc và đấu tranh làm thất bại âm mưu, hoạt động lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo
xâm phạm an ninh quốc gia. Chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng và
Nhà nước đã cơ bản đáp ứng được nguyện vọng của đông đảo nhân dân, củng cố niềm
tin, tạo động lực, sự phấn khởi cho đồng bào các tôn giáo đồng hành cùng dân
tộc, cùng toàn dân xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét