BIẾN ĐỘNG CHÍNH TRỊ TRONG THẾ GIỚI TOÀN
CẦU HÓA VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ; THỜI CƠ VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI VIỆT NAM
HOA SÚNG
Dưới tác động của xu thế toàn
cầu hóa và hội nhập quốc tế, thế giới hiện nay đang có những chuyển biến sâu
sắc, tác động đa chiều đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội; trong đó, nổi
bật là sự dịch chuyển quyền lực từ Tây sang Đông và sự điều chỉnh chiến lược
của các nước lớn tạo ra cả thời cơ và thách thức đối với các nước vừa và nhỏ trong
đó có Việt Nam.
1. Sự chuyển dịch quyền lực trong quan hệ quốc tế
hiện nay
Thế
giới đã và đang chứng kiến 3 cuộc chuyển giao quyền lực lớn trong lịch sử làm
thay đổi cơ bản bộ mặt của đời sống quốc tế từ chính trị, quân sự đến kinh tế,
văn hóa - xã hội.
Cuộc
chuyển giao quyền lực lần thứ nhất là sự trỗi dậy của châu Âu từ thế kỷ XV đến
cuối thế kỷ XVIII, dưới tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất.
Sự chuyển giao quyền lực lần đầu tiên này đánh giấu sự phát triển của chủ nghĩa
tư bản, sau thành chủ nghĩa đế quốc và sự dần hình thành trật tự thế giới đơn
cực do chủ nghĩa đế quốc lãnh đạo, chi phối.
Cuộc
chuyển giao quyền lực thứ hai là sự trỗi dậy của Mỹ từ những năm cuối thế kỷ
XIX, nhất là từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất (1918) đến chiến tranh thế
giới hai (1945), làm cho Mỹ trở thành siêu cường chi phối trật tự thế giới cho
tới cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI. Tuy trong cuộc chuyển giao quyền lực này có
sự ra đời của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa và trật tự thế giới 2 cực đã
được hình thành nhưng đã bị phá vỡ vào đầu thập niên 90 của thế kỷ XX khi các
nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ.
Bước
sang thế kỷ XXI, đặc biệt sau thập niên đầu tiên, do suy yếu tương đối của Mỹ
và sự trỗi dậy mạnh mẽ của một số nước lớn, nổi bật là Trung Quốc và Ấn Độ, dẫn
tới sự chuyển dịch quyền lực lần thứ ba trên phạm vi toàn cầu. Đó là sự chuyển
dịch trọng tâm quyền lực thế giới từ Tây sang Đông, dẫn tới sự thay đổi tương
quan về so sánh lực lượng giữa các nước lớn trong khu vực châu Á - Thái Bình
Dương, tác động sâu sắc đến quan hệ quốc tế. Sự chuyển giao quyền lực thứ ba làm
cho trật tự thế giới theo hướng đa cực, đa trung tâm diễn ra nhanh hơn, rõ hơn
và cục diện cạnh tranh chiến lược nước lớn gay gắt tại khu vực châu Á - Thái
Bình Dương.
2. Sự điều chỉnh chiến lược của các nước lớn
Trong
sự chuyển dịch quyền lực hiện tại, hầu hết các nước, nhất là những nước lớn có
sự điều chỉnh chiến lược, chính sách, tranh giành ảnh hưởng, khẳng định vị thế
của mình.
Điều chỉnh chiến lược của Mỹ: Với mục tiêu
duy trì vị thế siêu cường duy nhất, Mỹ tiếp tục điều chỉnh chiến lược đối với
từng khu vực để khống chế, kìm hãm các thế lực thách thức “ngôi vị số 1” của
mình. Trong bối cảnh hiện tại, Mỹ vừa phải thận trọng tìm cách cân bằng lợi
ích, củng cố và tăng cường vị thế siêu cường, đưa nước Mỹ “vĩ đại trở lại”, vừa
đảm bảo Mỹ vẫn là quốc gia đặt ra “luật chơi” trong quan hệ quốc tế. Về chiến
lược, chính sách đối với khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, Mỹ tập trung
củng cố liên minh mới Mỹ - Nhật - Ấn - Úc thay cho liên minh Mỹ -Nhật - Hàn; ra
khỏi Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương CPTPP; ban
hành Chiến lược An ninh quốc gia 2017; triển khai chiến lược Ấn Độ Dương - Thái
Bình Dương tự do và mở rộng; phát động cuộc chiến tranh thương mại Mỹ - Trung
Quốc.
Điều chỉnh chiến
lược của Trung Quốc: Trung Quốc với sức mạnh được tăng lên sau nhiều năm phát
triển, đang mở rộng không gian chiến lược để khẳng định vị thế cường quốc khu
vực và quốc tế. Trung Quốc đã điều chỉnh cơ cấu tổ chức, bộ máy quân đội; thay
đổi học thuyết quân sự và đường lối quốc phòng từ “chiến tranh nhân dân” sang
“chiến tranh phòng bị công
nghệ cao”, “chiến tranh hiện đại”; thay đổi phương thức tác chiến hiệp đồng
quân binh chủng sang tác chiến liên hợp; chú trọng phát triển lực lượng hải quân
để mở rộng hoạt động ra hướng biển, gia tăng ảnh hưởng ở Đông Nam Á, Đông Á,
từng bước cạnh tranh ảnh hưởng với Mỹ ở châu Á - Thái Bình Dương. Tiến bước xa
hơn, Trung Quốc đẩy mạnh thực hiện sáng kiến chiến lược “vành đai con đường”,
tham gia và thúc đẩy nhóm các nền kinh tế mới nổi (BRICS) giữa Trung Quốc với
Nga, Ấn Độ, Canada, Braxin, Nam Phi và Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (SCO), Diễn
đàn Bác Ngao… hướng tới xây dựng cơ chế hợp tác lấy Trung Quốc là trọng tâm,
động lực. Thay đổi phương châm chiến lược từ giấu mình chờ thời sang lộ mình chớp thời
cơ, quật khởi dân tộc, trỗi dậy hoà bình, làm nên công tích và chính sách ngoại
giao nước lớn toàn phương vị.
Điều chỉnh chiến
lược của Liên bang Nga: Liên bang Nga đang đẩy mạnh các hoạt động nhằm giành
lại vị thế của mình tại các khu vực ảnh hưởng truyền thống và trên quốc tế
trong sự kiềm tỏa của Mỹ và phương Tây, từ sau khi Nga sáp nhập Crưm. Chiến
lược của Nga đối với khu vực châu Á - Thái Bình Dương xuất phát từ nhận thức:
Thế kỷ XXI sẽ là thế kỷ châu Á - Thái Bình Dương; sự đối đầu giữa Mỹ và Nga nằm
trong chiến lược dài hạn sau Chiến tranh lạnh với toan tính của phương Tây làm
tan rã Nga; Nga là cường quốc nằm trên hai châu lục Á - Âu; trong quan hệ Mỹ -
Trung Quốc, yếu tố cạnh tranh ngày càng nổi trội, buộc Trung Quốc phải liên kết
với Nga làm đối trọng với Mỹ. Do đó, giữa Nga và Trung Quốc hình thành “mối
liên kết tự nhiên”. Sự điều chỉnh chiến lược của Nga nhằm khai thác tiềm năng
các nền kinh tế đang phát triển nhanh ở châu Á để thu hút đầu tư cho phát triển
khu vực Xibêri và Viễn Đông của Nga; tiếp cận thị trường lớn về tài nguyên,
năng lượng; mở rộng thị trường xuất khẩu vũ khí, trang bị hiện đại. Sự điều
chỉnh của Nga trong quan hệ đối tác với ASEAN là một trong những ưu tiên trong
chính sách ở châu Á - Thái Bình Dương bởi Nga và ASEAN có quan hệ gắn kết với
nhau dựa trên nền tảng lịch sử bền vững, trùng hợp về quan điểm đối với nhiều
vấn đề của khu vực, tạo khả năng to lớn để hai bên cùng phối hợp hoạt động
trong các vấn đề quốc tế. Nga ủng hộ ASEAN xây dựng cấu trúc khu vực hoàn thiện
hơn theo nguyên tắc bình đẳng và minh bạch, dựa trên cơ sở đa trung tâm, quyền
tối cao của pháp luật, có tính đến lợi ích của tất cả các nước trong khu vực.
Điều chỉnh chiến lược của nhật Bản: Nhiều dự báo cho
thấy đến năm 2020, Nhật Bản vẫn là cường quốc kinh tế nhưng nhiều khả năng sẽ
bị Ấn Độ thách thức ở vị trí số 3. Vì vậy, nhằm duy trì vị thế của mình, trở
thành một cường quốc có ảnh hưởng cả về kinh tế, chính trị, quân sự trong khu
vực và trên thế giới, Nhật Bản tiến hành sửa đổi Hiến pháp, gỡ bỏ ràng buộc nội
bộ để tăng quyền tự do hành động trong một số vấn đề liên quan đến an ninh quốc
gia. Đồng thời, phát huy công cụ “ngoại giao kinh tế”, tăng cường quan hệ đồng
minh, liên kết chặt chẽ và chia sẻ trách nhiệm với Mỹ trong những vấn đề quốc
tế; tập trung xử lý quan hệ với Trung Quốc, nhất là những căng thẳng trong
tranh chấp biển, đảo; tham gia tích cực vào các cơ chế hợp tác do ASEAN chủ đạo
để có vai trò lớn hơn; phấn đấu sớm trở thành Thường trực Hội đồng bảo an liên
hợp quốc.
Điều chỉnh chiến lược của Ấn Độ: Những năm gần
đây, Ấn Độ có sự phát triển mạnh, nhiều khả năng vượt lên thành nền kinh tế thứ
3 thế giới. Trong chiến lược của mình, Ấn Độ tiếp tục duy trì cân bằng quan hệ
với các nước lớn, trước hết là Mỹ và Trung Quốc, nhưng cạnh tranh lợi ích với
Trung Quốc sẽ gay gắt hơn; tiếp tục khẳng định ảnh hưởng ở khu vực Nam Á và Ấn
Độ Dương; đẩy mạnh chiến lược “hướng Đông”, gia tăng ảnh hưởng ở Đông Nam Á,
quan tâm hơn tới an ninh biển và bảo vệ trật tự biển.
Điều chỉnh chiến lược của các nước Liên
minh châu Âu: Các nước Liên minh châu Âu đang hướng vào xử lý các vấn
đề nổi cộm của khối như brexit, khủng hoảng nợ công, nhập cư, chống khủng bố,...
Vì vậy, sự quan tâm và nguồn lực dành cho khu vực châu Á - Thái Bình Dương có
chiều hướng giảm; tuy nhiên, vẫn duy trì quan hệ với các đối tác ở các khu vực
khác, trong đó có ASEAN.
Tình
hình trên cho thấy, sự cạnh tranh quyền lực, lợi ích và vị thế chiến lược giữa
các nước lớn, đặc biệt là giữa Mỹ, Trung Quốc và Nga đang diễn ra ngày càng
quyết liệt, tác động nhiều chiều đến đời sống quốc tế, cả tích cực và tiêu cực,
tạo ra thời cơ và thách thức đối với các nước vừa và nhỏ, trong đó có Việt Nam.
3. Thời cơ và thách thức đối với Việt Nam
Về thời cơ
Một là, điểm chung tích
cực là trong tuyên bố về điều chỉnh chiến lược của mình, các nước đều hướng tới
xây dựng một thế giới hòa bình, hợp tác và phát triển, không sử dụng vũ lực
trong giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp. Điều này tạo lòng tin, môi trường hòa
bình để các quốc gia, dân tộc yên tâm đẩy mạnh hợp tác, xây dựng đất nước phát
triển. Nhằm gia tăng ảnh hưởng trên thế giới, các nước vừa và nhỏ, trong đó có
Việt Nam, sẽ trở thành đối tượng lôi kéo, tranh giành của các nước lớn, không
những về chính trị mà còn về kinh tế. Như vậy, vai trò các nước vừa và nhỏ ngày
càng tăng, nếu các nước biết tận dụng thời cơ này, củng cố đoàn kết, tăng cường
tiếng nói trong đời sống chính trị quốc tế, cùng nhau đưa ra “luật chơi chung”
để đỡ bị thiệt thòi, công bằng hơn. Khi đó, các nước lớn sẽ phải có những
nhượng bộ, bảo đảm lợi ích cho các nước vừa và nhỏ. Theo đó, tiếng nói, vị thế
của các nước vừa và nhỏ trong quan hệ quốc tế, giải quyết những vấn đề toàn cầu
được tôn trọng; đồng thời, tạo cơ hội mở rộng quan hệ với các nước lớn, không
nghiêng hẳn về bên nào, không bị lệ thuộc vào nước lớn nào.
Hai là, tại khu vực
châu Á - Thái Bình Dương, với sự can dự ngày càng mạnh mẽ của Mỹ, sự lớn mạnh
của Trung Quốc, Ấn Độ và sự dính líu ngày càng sâu vào các vấn đề khu vực của các
cường quốc khác trên thế giới đã mở ra thời cơ để các nước trong khu vực phát
triển quan hệ với cả Trung Quốc và Mỹ cũng như với các cường quốc khác, tạo môi
trường quốc tế thuận lợi cho tăng cường xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển
của khu vực châu Á - Thái Bình Dương nói chung, khu vực Đông Nam Á nói riêng. Trong
bối cảnh đó, ASEAN có nhiều khả năng tiếp tục là nhân tố thúc đẩy hợp tác ở khu
vực. Bởi (1) Sự nghi kỵ và thiếu niềm tin chính trị giữa các nước lớn tạo điều
kiện cho ASEAN đóng vai trò “trung tâm” trong việc xây dựng các cơ chế hợp tác
khu vực. Các nước lớn sẽ dễ dàng hơn trong việc xem xét các cơ chế hợp tác, đối
thoại do ASEAN khởi xướng. (2)
Thành công của từng nước thành viên ASEAN trong sự nghiệp phát triển đất
nước và nỗ lực duy trì hòa bình, ổn định ở khu vực làm cho ASEAN trở thành một
trong những tổ chức có vai trò quan trọng đối với trật tự ở khu vực. (3) ASEAN
đã nhất trí xây dựng Cộng đồng với ba trụ cột từ cuối năm 2015, làm cho hợp tác
sẽ đi vào thực chất hơn. Do cạnh tranh chiến lược với nhau, nên các nước lớn
đều ủng hộ vai trò của ASEAN trong nỗ lực xây dựng thể chế hợp tác khu vực. Các
Diễn đàn ARF, ADMM+, Shangri La,... là những cơ chế hợp tác quan trọng ở khu
vực; được các nước lớn ủng hộ, đóng vai trò thúc đẩy, chi phối tiến trình, hợp
tác khu vực, tạo ra thời cơ thuận lợi để các nước trong khối và Việt Nam đẩy
mạnh hợp tác, phát triển.
Về thách thức
Thứ nhất, những biến động
trong thế giới toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đặt ra cho các nước vừa và nhỏ
nhiều thách thức, nhất là việc giữ vững độc lập, tự chủ trong quan hệ quốc tế.
Hầu hết các nước vừa và nhỏ là những nước đang hoặc chậm phát triển, rất cần sự
đầu tư, chuyển giao công nghệ, viện trợ... của các nước phát triển, vì vậy dễ
dẫn tới bị lệ thuộc vào một cường quốc nhất định về kinh tế. Từ lệ thuộc về
kinh tế sẽ dẫn đến lệ thuộc về chính trị, bị chi phối, thao túng, không còn giữ
được độc lập, tự chủ trong quyết định các vấn đề nội bộ cũng như quan hệ quốc
tế. Đây là thách thức gay gắt đối với các nước vừa và nhỏ hiện nay.
Thức hai, các nước vừa và
nhỏ là phải tạo thế “cân bằng” tương đối trong quan hệ với các nước lớn, không
quá thiên về bất kỳ nước lớn nào để tránh trở thành nguyên nhân đối đầu giữa
các cường quốc, dẫn đến phải hứng chịu xung đột vũ trang và chiến tranh. Thực
tiễn cho thấy, khi quyền lợi giữa các nước lớn bị cọ xát, có thể xảy ra xung
đột, thì các nước lớn tìm cách chuyển hóa và đẩy xung đột ấy sang các nước vừa
và nhỏ. Nói cách khác, nước lớn sẽ tìm cách tiến hành “chiến tranh ủy nhiệm”
như trong thế kỷ XX tại các nước vừa và nhỏ, nhất là ở nơi tập trung cao những
mâu thuẫn lợi ích giữa các nước lớn.
Thứ ba, các vấn đề toàn
cầu, an ninh phi truyền thống; nhất là, trào lưu dân túy và xu hướng bảo hộ
đang gây ra một số tác động khá tiêu cực trong quan hệ quốc tế. Nó cổ vũ cho
việc bảo vệ lợi ích cục bộ của mỗi quốc gia; chống liên kết, hội nhập quốc tế,
hạn chế liên kết kinh tế, giảm sự ủng hộ đối với tự do thương mại đa phương. Do
đó, làm tăng sự va chạm về lợi ích giữa các quốc gia; tăng mâu thuẫn, bất đồng
vốn có về một số vấn đề kinh tế, thương mại, không loại trừ có những hành động
“trả đũa” dẫn tới chiến tranh kinh tế - thương mại. Việc phải tìm cách giải
quyết các vấn đề an ninh phi truyền thống (thiên tai, dịch bệnh, khủng bố, tội
phạm xuyên quốc gia, biến đổi khí hậu, an ninh năng lượng, lương thực, an ninh
nguồn nước,...) cũng như khắc phục những hệ lụy do các chính sách theo chủ
nghĩa dân túy và xu hướng bảo hộ gây ra những thách thức không chỉ về nhân lực,
vật lực, tài lực, mà còn phải có cách hiểu, ứng xử mới về khái niệm “chủ quyền
quốc gia” thời kỳ hội nhập quốc tế trong bối cảnh các quốc gia ngày càng phụ
thuộc nhau sâu sắc hơn. Những thách thức đó, vẫn đã, đang tiềm ẩn những yếu tố
có thể dẫn đến biến động phức tạp, phạm vi rộng lớn và nhiều hệ lụy to lớn hơn
đối với vấn đề hòa bình, ổn định và phát triển của nhân loại. Vì vậy, nắm bắt
thời cơ, khắc phục những thách thức nhằm tăng cường hợp tác quốc tế, thúc đẩy
sự phát triển, ngăn chặn, dập tắt những mầm mống gây ra biến động, xung đột vũ
trang, đòi hỏi các nước vừa và nhỏ phải có đường lối, quyết sách đúng đắn, phù
hợp.
Lời kết: Nhận thức đúng
về xu thế của thời đại và cục diện thế giới, khu vực, Đảng và Nhà nước đã có
định hướng chỉ đạo và có quyết sách đúng đắn, kịp thời; tận dụng được thời cơ,
góp phần thúc đẩy đất nước phát triển, đạt được những thành tựu to lớn, có ý
nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đất nước ra khỏi khủng
hoảng kinh tế - xã hội và tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát
triển có thu nhập trung bình; chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh
được giữ vững; quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng và đi vào chiều sâu; vị thế
và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao. Những thành tựu đó đã
tạo tiền đề, nền tảng quan trọng để nước ta tiếp tục đổi mới và phát triển mạnh
mẽ trong những năm tới. Nhằm nắm bắt thời cơ, hạn chế thách thức trong bối cảnh
toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, Văn kiện Đại hội XII của Đảng xác định: “Bảo
đảm lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản
của luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi, thực hiện nhất quán đường lối
đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa
phương hóa trong quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là
bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.
Trên cơ sở vừa hợp tác, vừa đấu tranh, hoạt động đối ngoại nhằm phục vụ mục
tiêu giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tranh thủ tối đa nguồn lực bên
ngoài để phát triển đất nước, nâng cao đời sống nhân dân; kiên quyết, kiên trì
đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ
của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; nâng
cao vị thế, uy tín của đất nước và góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân
tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới”.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét