Thứ Bảy, 14 tháng 12, 2019


BIẾN ĐỘNG CHÍNH TRỊ TRONG THẾ GIỚI TOÀN CẦU HÓA VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ; THỜI CƠ VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI VIỆT NAM
                                                                                               HOA SÚNG
Dưới tác động của xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, thế giới hiện nay đang có những chuyển biến sâu sắc, tác động đa chiều đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội; trong đó, nổi bật là sự dịch chuyển quyền lực từ Tây sang Đông và sự điều chỉnh chiến lược của các nước lớn tạo ra cả thời cơ và thách thức đối với các nước vừa và nhỏ trong đó có Việt Nam.
1. Sự chuyển dịch quyền lực trong quan hệ quốc tế hiện nay
Thế giới đã và đang chứng kiến 3 cuộc chuyển giao quyền lực lớn trong lịch sử làm thay đổi cơ bản bộ mặt của đời sống quốc tế từ chính trị, quân sự đến kinh tế, văn hóa - xã hội.
Cuộc chuyển giao quyền lực lần thứ nhất là sự trỗi dậy của châu Âu từ thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XVIII, dưới tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất. Sự chuyển giao quyền lực lần đầu tiên này đánh giấu sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, sau thành chủ nghĩa đế quốc và sự dần hình thành trật tự thế giới đơn cực do chủ nghĩa đế quốc lãnh đạo, chi phối.
Cuộc chuyển giao quyền lực thứ hai là sự trỗi dậy của Mỹ từ những năm cuối thế kỷ XIX, nhất là từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất (1918) đến chiến tranh thế giới hai (1945), làm cho Mỹ trở thành siêu cường chi phối trật tự thế giới cho tới cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI. Tuy trong cuộc chuyển giao quyền lực này có sự ra đời của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa và trật tự thế giới 2 cực đã được hình thành nhưng đã bị phá vỡ vào đầu thập niên 90 của thế kỷ XX khi các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ.
Bước sang thế kỷ XXI, đặc biệt sau thập niên đầu tiên, do suy yếu tương đối của Mỹ và sự trỗi dậy mạnh mẽ của một số nước lớn, nổi bật là Trung Quốc và Ấn Độ, dẫn tới sự chuyển dịch quyền lực lần thứ ba trên phạm vi toàn cầu. Đó là sự chuyển dịch trọng tâm quyền lực thế giới từ Tây sang Đông, dẫn tới sự thay đổi tương quan về so sánh lực lượng giữa các nước lớn trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương, tác động sâu sắc đến quan hệ quốc tế. Sự chuyển giao quyền lực thứ ba làm cho trật tự thế giới theo hướng đa cực, đa trung tâm diễn ra nhanh hơn, rõ hơn và cục diện cạnh tranh chiến lược nước lớn gay gắt tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương.
2. Sự điều chỉnh chiến lược của các nước lớn
Trong sự chuyển dịch quyền lực hiện tại, hầu hết các nước, nhất là những nước lớn có sự điều chỉnh chiến lược, chính sách, tranh giành ảnh hưởng, khẳng định vị thế của mình.
Điều chỉnh chiến lược của Mỹ: Với mục tiêu duy trì vị thế siêu cường duy nhất, Mỹ tiếp tục điều chỉnh chiến lược đối với từng khu vực để khống chế, kìm hãm các thế lực thách thức “ngôi vị số 1” của mình. Trong bối cảnh hiện tại, Mỹ vừa phải thận trọng tìm cách cân bằng lợi ích, củng cố và tăng cường vị thế siêu cường, đưa nước Mỹ “vĩ đại trở lại”, vừa đảm bảo Mỹ vẫn là quốc gia đặt ra “luật chơi” trong quan hệ quốc tế. Về chiến lược, chính sách đối với khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, Mỹ tập trung củng cố liên minh mới Mỹ - Nhật - Ấn - Úc thay cho liên minh Mỹ -Nhật - Hàn; ra khỏi Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương CPTPP; ban hành Chiến lược An ninh quốc gia 2017; triển khai chiến lược Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương tự do và mở rộng; phát động cuộc chiến tranh thương mại Mỹ - Trung Quốc.
Điều chỉnh chiến lược của Trung Quốc: Trung Quốc với sức mạnh được tăng lên sau nhiều năm phát triển, đang mở rộng không gian chiến lược để khẳng định vị thế cường quốc khu vực và quốc tế. Trung Quốc đã điều chỉnh cơ cấu tổ chức, bộ máy quân đội; thay đổi học thuyết quân sự và đường lối quốc phòng từ “chiến tranh nhân dân” sang “chiến tranh phòng bị công nghệ cao”, “chiến tranh hiện đại”; thay đổi phương thức tác chiến hiệp đồng quân binh chủng sang tác chiến liên hợp; chú trọng phát triển lực lượng hải quân để mở rộng hoạt động ra hướng biển, gia tăng ảnh hưởng ở Đông Nam Á, Đông Á, từng bước cạnh tranh ảnh hưởng với Mỹ ở châu Á - Thái Bình Dương. Tiến bước xa hơn, Trung Quốc đẩy mạnh thực hiện sáng kiến chiến lược “vành đai con đường”, tham gia và thúc đẩy nhóm các nền kinh tế mới nổi (BRICS) giữa Trung Quốc với Nga, Ấn Độ, Canada, Braxin, Nam Phi và Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (SCO), Diễn đàn Bác Ngao… hướng tới xây dựng cơ chế hợp tác lấy Trung Quốc là trọng tâm, động lực. Thay đổi phương châm chiến lược từ giấu mình chờ thời sang lộ mình chớp thời cơ, quật khởi dân tộc, trỗi dậy hoà bình, làm nên công tích và chính sách ngoại giao nước lớn toàn phương vị.
Điều chỉnh chiến lược của Liên bang Nga: Liên bang Nga đang đẩy mạnh các hoạt động nhằm giành lại vị thế của mình tại các khu vực ảnh hưởng truyền thống và trên quốc tế trong sự kiềm tỏa của Mỹ và phương Tây, từ sau khi Nga sáp nhập Crưm. Chiến lược của Nga đối với khu vực châu Á - Thái Bình Dương xuất phát từ nhận thức: Thế kỷ XXI sẽ là thế kỷ châu Á - Thái Bình Dương; sự đối đầu giữa Mỹ và Nga nằm trong chiến lược dài hạn sau Chiến tranh lạnh với toan tính của phương Tây làm tan rã Nga; Nga là cường quốc nằm trên hai châu lục Á - Âu; trong quan hệ Mỹ - Trung Quốc, yếu tố cạnh tranh ngày càng nổi trội, buộc Trung Quốc phải liên kết với Nga làm đối trọng với Mỹ. Do đó, giữa Nga và Trung Quốc hình thành “mối liên kết tự nhiên”. Sự điều chỉnh chiến lược của Nga nhằm khai thác tiềm năng các nền kinh tế đang phát triển nhanh ở châu Á để thu hút đầu tư cho phát triển khu vực Xibêri và Viễn Đông của Nga; tiếp cận thị trường lớn về tài nguyên, năng lượng; mở rộng thị trường xuất khẩu vũ khí, trang bị hiện đại. Sự điều chỉnh của Nga trong quan hệ đối tác với ASEAN là một trong những ưu tiên trong chính sách ở châu Á - Thái Bình Dương bởi Nga và ASEAN có quan hệ gắn kết với nhau dựa trên nền tảng lịch sử bền vững, trùng hợp về quan điểm đối với nhiều vấn đề của khu vực, tạo khả năng to lớn để hai bên cùng phối hợp hoạt động trong các vấn đề quốc tế. Nga ủng hộ ASEAN xây dựng cấu trúc khu vực hoàn thiện hơn theo nguyên tắc bình đẳng và minh bạch, dựa trên cơ sở đa trung tâm, quyền tối cao của pháp luật, có tính đến lợi ích của tất cả các nước trong khu vực.
Điều chỉnh chiến lược của nhật Bản: Nhiều dự báo cho thấy đến năm 2020, Nhật Bản vẫn là cường quốc kinh tế nhưng nhiều khả năng sẽ bị Ấn Độ thách thức ở vị trí số 3. Vì vậy, nhằm duy trì vị thế của mình, trở thành một cường quốc có ảnh hưởng cả về kinh tế, chính trị, quân sự trong khu vực và trên thế giới, Nhật Bản tiến hành sửa đổi Hiến pháp, gỡ bỏ ràng buộc nội bộ để tăng quyền tự do hành động trong một số vấn đề liên quan đến an ninh quốc gia. Đồng thời, phát huy công cụ “ngoại giao kinh tế”, tăng cường quan hệ đồng minh, liên kết chặt chẽ và chia sẻ trách nhiệm với Mỹ trong những vấn đề quốc tế; tập trung xử lý quan hệ với Trung Quốc, nhất là những căng thẳng trong tranh chấp biển, đảo; tham gia tích cực vào các cơ chế hợp tác do ASEAN chủ đạo để có vai trò lớn hơn; phấn đấu sớm trở thành Thường trực Hội đồng bảo an liên hợp quốc.
Điều chỉnh chiến lược của Ấn Độ: Những năm gần đây, Ấn Độ có sự phát triển mạnh, nhiều khả năng vượt lên thành nền kinh tế thứ 3 thế giới. Trong chiến lược của mình, Ấn Độ tiếp tục duy trì cân bằng quan hệ với các nước lớn, trước hết là Mỹ và Trung Quốc, nhưng cạnh tranh lợi ích với Trung Quốc sẽ gay gắt hơn; tiếp tục khẳng định ảnh hưởng ở khu vực Nam Á và Ấn Độ Dương; đẩy mạnh chiến lược “hướng Đông”, gia tăng ảnh hưởng ở Đông Nam Á, quan tâm hơn tới an ninh biển và bảo vệ trật tự biển.
Điều chỉnh chiến lược của các nước Liên minh châu Âu: Các nước Liên minh châu Âu đang hướng vào xử lý các vấn đề nổi cộm của khối như brexit, khủng hoảng nợ công, nhập cư, chống khủng bố,... Vì vậy, sự quan tâm và nguồn lực dành cho khu vực châu Á - Thái Bình Dương có chiều hướng giảm; tuy nhiên, vẫn duy trì quan hệ với các đối tác ở các khu vực khác, trong đó có ASEAN.
Tình hình trên cho thấy, sự cạnh tranh quyền lực, lợi ích và vị thế chiến lược giữa các nước lớn, đặc biệt là giữa Mỹ, Trung Quốc và Nga đang diễn ra ngày càng quyết liệt, tác động nhiều chiều đến đời sống quốc tế, cả tích cực và tiêu cực, tạo ra thời cơ và thách thức đối với các nước vừa và nhỏ, trong đó có Việt Nam.
3. Thời cơ và thách thức đối với Việt Nam
Về thời cơ
Một là, điểm chung tích cực là trong tuyên bố về điều chỉnh chiến lược của mình, các nước đều hướng tới xây dựng một thế giới hòa bình, hợp tác và phát triển, không sử dụng vũ lực trong giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp. Điều này tạo lòng tin, môi trường hòa bình để các quốc gia, dân tộc yên tâm đẩy mạnh hợp tác, xây dựng đất nước phát triển. Nhằm gia tăng ảnh hưởng trên thế giới, các nước vừa và nhỏ, trong đó có Việt Nam, sẽ trở thành đối tượng lôi kéo, tranh giành của các nước lớn, không những về chính trị mà còn về kinh tế. Như vậy, vai trò các nước vừa và nhỏ ngày càng tăng, nếu các nước biết tận dụng thời cơ này, củng cố đoàn kết, tăng cường tiếng nói trong đời sống chính trị quốc tế, cùng nhau đưa ra “luật chơi chung” để đỡ bị thiệt thòi, công bằng hơn. Khi đó, các nước lớn sẽ phải có những nhượng bộ, bảo đảm lợi ích cho các nước vừa và nhỏ. Theo đó, tiếng nói, vị thế của các nước vừa và nhỏ trong quan hệ quốc tế, giải quyết những vấn đề toàn cầu được tôn trọng; đồng thời, tạo cơ hội mở rộng quan hệ với các nước lớn, không nghiêng hẳn về bên nào, không bị lệ thuộc vào nước lớn nào.
Hai là, tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương, với sự can dự ngày càng mạnh mẽ của Mỹ, sự lớn mạnh của Trung Quốc, Ấn Độ và sự dính líu ngày càng sâu vào các vấn đề khu vực của các cường quốc khác trên thế giới đã mở ra thời cơ để các nước trong khu vực phát triển quan hệ với cả Trung Quốc và Mỹ cũng như với các cường quốc khác, tạo môi trường quốc tế thuận lợi cho tăng cường xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển của khu vực châu Á - Thái Bình Dương nói chung, khu vực Đông Nam Á nói riêng. Trong bối cảnh đó, ASEAN có nhiều khả năng tiếp tục là nhân tố thúc đẩy hợp tác ở khu vực. Bởi (1) Sự nghi kỵ và thiếu niềm tin chính trị giữa các nước lớn tạo điều kiện cho ASEAN đóng vai trò “trung tâm” trong việc xây dựng các cơ chế hợp tác khu vực. Các nước lớn sẽ dễ dàng hơn trong việc xem xét các cơ chế hợp tác, đối thoại do ASEAN khởi xướng. (2) Thành công của từng nước thành viên ASEAN trong sự nghiệp phát triển đất nước và nỗ lực duy trì hòa bình, ổn định ở khu vực làm cho ASEAN trở thành một trong những tổ chức có vai trò quan trọng đối với trật tự ở khu vực. (3) ASEAN đã nhất trí xây dựng Cộng đồng với ba trụ cột từ cuối năm 2015, làm cho hợp tác sẽ đi vào thực chất hơn. Do cạnh tranh chiến lược với nhau, nên các nước lớn đều ủng hộ vai trò của ASEAN trong nỗ lực xây dựng thể chế hợp tác khu vực. Các Diễn đàn ARF, ADMM+, Shangri La,... là những cơ chế hợp tác quan trọng ở khu vực; được các nước lớn ủng hộ, đóng vai trò thúc đẩy, chi phối tiến trình, hợp tác khu vực, tạo ra thời cơ thuận lợi để các nước trong khối và Việt Nam đẩy mạnh hợp tác, phát triển.
Về thách thức 
Thứ nhất, những biến động trong thế giới toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đặt ra cho các nước vừa và nhỏ nhiều thách thức, nhất là việc giữ vững độc lập, tự chủ trong quan hệ quốc tế. Hầu hết các nước vừa và nhỏ là những nước đang hoặc chậm phát triển, rất cần sự đầu tư, chuyển giao công nghệ, viện trợ... của các nước phát triển, vì vậy dễ dẫn tới bị lệ thuộc vào một cường quốc nhất định về kinh tế. Từ lệ thuộc về kinh tế sẽ dẫn đến lệ thuộc về chính trị, bị chi phối, thao túng, không còn giữ được độc lập, tự chủ trong quyết định các vấn đề nội bộ cũng như quan hệ quốc tế. Đây là thách thức gay gắt đối với các nước vừa và nhỏ hiện nay.
Thức hai, các nước vừa và nhỏ là phải tạo thế “cân bằng” tương đối trong quan hệ với các nước lớn, không quá thiên về bất kỳ nước lớn nào để tránh trở thành nguyên nhân đối đầu giữa các cường quốc, dẫn đến phải hứng chịu xung đột vũ trang và chiến tranh. Thực tiễn cho thấy, khi quyền lợi giữa các nước lớn bị cọ xát, có thể xảy ra xung đột, thì các nước lớn tìm cách chuyển hóa và đẩy xung đột ấy sang các nước vừa và nhỏ. Nói cách khác, nước lớn sẽ tìm cách tiến hành “chiến tranh ủy nhiệm” như trong thế kỷ XX tại các nước vừa và nhỏ, nhất là ở nơi tập trung cao những mâu thuẫn lợi ích giữa các nước lớn.
Thứ ba, các vấn đề toàn cầu, an ninh phi truyền thống; nhất là, trào lưu dân túy và xu hướng bảo hộ đang gây ra một số tác động khá tiêu cực trong quan hệ quốc tế. Nó cổ vũ cho việc bảo vệ lợi ích cục bộ của mỗi quốc gia; chống liên kết, hội nhập quốc tế, hạn chế liên kết kinh tế, giảm sự ủng hộ đối với tự do thương mại đa phương. Do đó, làm tăng sự va chạm về lợi ích giữa các quốc gia; tăng mâu thuẫn, bất đồng vốn có về một số vấn đề kinh tế, thương mại, không loại trừ có những hành động “trả đũa” dẫn tới chiến tranh kinh tế - thương mại. Việc phải tìm cách giải quyết các vấn đề an ninh phi truyền thống (thiên tai, dịch bệnh, khủng bố, tội phạm xuyên quốc gia, biến đổi khí hậu, an ninh năng lượng, lương thực, an ninh nguồn nước,...) cũng như khắc phục những hệ lụy do các chính sách theo chủ nghĩa dân túy và xu hướng bảo hộ gây ra những thách thức không chỉ về nhân lực, vật lực, tài lực, mà còn phải có cách hiểu, ứng xử mới về khái niệm “chủ quyền quốc gia” thời kỳ hội nhập quốc tế trong bối cảnh các quốc gia ngày càng phụ thuộc nhau sâu sắc hơn. Những thách thức đó, vẫn đã, đang tiềm ẩn những yếu tố có thể dẫn đến biến động phức tạp, phạm vi rộng lớn và nhiều hệ lụy to lớn hơn đối với vấn đề hòa bình, ổn định và phát triển của nhân loại. Vì vậy, nắm bắt thời cơ, khắc phục những thách thức nhằm tăng cường hợp tác quốc tế, thúc đẩy sự phát triển, ngăn chặn, dập tắt những mầm mống gây ra biến động, xung đột vũ trang, đòi hỏi các nước vừa và nhỏ phải có đường lối, quyết sách đúng đắn, phù hợp.
Lời kết: Nhận thức đúng về xu thế của thời đại và cục diện thế giới, khu vực, Đảng và Nhà nước đã có định hướng chỉ đạo và có quyết sách đúng đắn, kịp thời; tận dụng được thời cơ, góp phần thúc đẩy đất nước phát triển, đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình; chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được giữ vững; quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng và đi vào chiều sâu; vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao. Những thành tựu đó đã tạo tiền đề, nền tảng quan trọng để nước ta tiếp tục đổi mới và phát triển mạnh mẽ trong những năm tới. Nhằm nắm bắt thời cơ, hạn chế thách thức trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, Văn kiện Đại hội XII của Đảng xác định: “Bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi, thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa trong quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Trên cơ sở vừa hợp tác, vừa đấu tranh, hoạt động đối ngoại nhằm phục vụ mục tiêu giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao đời sống nhân dân; kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; nâng cao vị thế, uy tín của đất nước và góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới”.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét