KHÁNG CHIẾN TOÀN DÂN, TOÀN DIỆN,
TRƯỜNG KỲ, DỰA VÀO SỨC MÌNH LÀ CHÍNH
HOA SÚNG
Cách mạng tháng Tám năm
1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, đã tác động, cổ vũ mạnh
mẽ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của các nước thuộc địa; làm cho các
thế lực đế quốc và bọn phản động quốc tế hết sức lo sợ, tìm mọi cách chống phá
hòng thủ tiêu Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Thực tế, chính quyền
cách mạng non trẻ của ta đã phải đối phó với muôn vàn khó khăn, đứng trước tình
thế “ngàn cân treo sợi tóc”. Bên trong, “giặc đói”, “giặc dốt”, giặc nội phản hoành
hành, bên ngoài, giặc ngoại xâm liên tục tấn công, hòng tiêu diệt chính quyền vừa
thành lập.
Với dã tâm cướp nước ta
một lần nữa, ngày 23-9-1945 được sự giúp đỡ của quân Anh, thực dân Pháp nổ súng
gây hấn ở Sài Gòn, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương lần thứ hai, rồi
mở rộng đánh chiếm Nam bộ và Nam Trung bộ, tìm cách đưa quân ra Bắc bộ, đánh
chiếm Hải Phòng, Lạng Sơn, Hải Dương, gây nhiều vụ xung đột, khiêu khích ở Hà Nội.
Trước tình hình đó,
cùng với việc củng cố chính quyền, bài trừ nội phản, cải thiện đời sống nhân
dân, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh tìm các biện pháp đấu tranh mềm dẻo
nhằm duy trì hòa bình, giữ vững độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc. Để tranh
thủ thời gian củng cố lực lượng cách mạng, tránh phải đối phó với nhiều kẻ thù,
khi thì chúng ta tạm thời hòa hoãn với quân Tưởng Giới Thạch, để rảnh tay đối
phó với quân Pháp, khi thì tạm thời hòa hoãn với Pháp để đuổi quân Tưởng và bọn
tay sai ra khỏi đất nước.
Chúng ta đã chủ động
đàm phán với Pháp để tránh cuộc chiến tranh, giữ hòa bình cho cả hai dân tộc, rồi
ký Hiệp định sơ bộ ngày 6-3-1946, sau đó ký Tạm ước ngày 14-9-1946. Chủ tịch Hồ
Chí Minh còn gửi thư tới nguyên thủ các nước Anh, Mỹ, Liên Xô và các thành viên
của Liên hiệp quốc, nêu rõ thiện chí hòa bình, mong mỏi Liên hiệp quốc chấp nhận
những yêu cầu chính đáng của Việt Nam để duy trì hòa bình. Đồng thời, Người
liên tục gửi thư cho Chính phủ, Quốc hội, Thủ tướng Pháp và cử phái viên đến gặp
người cầm đầu Pháp ở Đông Dương, tìm cách cứu vãn hòa bình, tránh cuộc chiến
tranh đổ máu. Nhưng giới cầm quyền thực dân đã khước từ mọi nỗ lực cứu vãn hòa
bình của chúng ta.
Chúng ta càng nhân nhượng,
thực dân Pháp càng lấn tới. Bất chấp những thiện chí hòa bình của Việt Nam,
trong các ngày 15 và 16-12-1946, quân Pháp nổ súng gây hấn nhiều nơi ở Hà Nội.
Ngày 17-12-1946, chúng cho xe phá các công sự của ta ở phố Lò Đúc, rồi gây ra vụ
tàn sát đẫm máu ở phố Hàng Bún và phố Yên Ninh. Ngày 18-12-1946, tướng Morlière
gửi cho ta hai tối hậu thư đòi chiếm đóng Sở Tài chính, đòi ta phải phá bỏ mọi
công sự và chướng ngại trên các đường phố, đòi để cho chúng làm nhiệm vụ giữ
gìn trị an ở Hà Nội. Chúng tuyên bố nếu các yêu cầu đó không được Chính phủ Việt
Nam chấp nhận thì quân Pháp sẽ chuyển sang hành động chậm nhất là sáng ngày
20-12-1946.
Tình thế đó buộc Đảng,
Chính phủ và nhân dân ta không có lựa chọn nào khác là cầm vũ khí đứng lên chiến
đấu toàn quốc để bảo vệ độc lập dân tộc.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét