LÒNG NHÂN ÁI, KHOAN DUNG VÀ NHÂN VĂN
CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH TRONG LÃNH ĐẠO
KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP VÀ MỸ
HOẰNG THÁO
Suốt quá trình lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng, Chủ
tịch Hồ Chí Minh luôn hướng tới một nền hòa bình cho dân tộc Việt Nam và xây dựng
tình hữu nghị với nhân dân Pháp, Mỹ. Bằng rất nhiều sách lược khôn khéo, kể cả
nhân nhượng cần thiết, Hồ Chí Minh muốn tránh cuộc chiến tranh Pháp - Việt lần
thứ hai (1945-1954) và cuộc chiến tranh Việt - Mỹ (1954-1975), nhưng đều bị đối
phương cự tuyệt. Nhân dân Việt Nam buộc phải kháng chiến chống đế quốc Pháp và
đế quốc Mỹ. Tuy nhiên, trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo kháng chiến, Hồ Chí
Minh vẫn kiên trì theo đuổi khả năng hòa bình, sớm kết thúc chiến tranh. Người
đã nhiều lần viết thư bày tỏ lập trường hòa bình, hữu nghị của dân tộc Việt
Nam. Trong thư gửi Tổng thống Pháp (18-1-1947), Hồ Chí Minh viết: “Tôi xin nói
để ngài rõ là dân tộc Việt Nam chỉ mong được độc lập và thống nhất trong khối
Liên hiệp Pháp. Tôi rất đau lòng trông thấy những người đáng lẽ là bạn bè anh
em với nhau, mà nay phải tàn sát lẫn nhau. Chúng ta có thể và chúng ta phải đi
tới hòa bình để cứu sống cho bao thanh niên Pháp-Việt”. Đây là tư tưởng, quan
điểm hết sức nhân văn, nhân đạo của Người, cũng vì sự nhân văn, nhân đạo cao cả
để cứu toàn thể dân tộc Việt Nam khỏi ách nô lệ. Hồ Chí Minh đã tỏ rõ lập trường
và lòng tin vào thắng lợi của mình: “Chúng tôi muốn hòa bình. Chúng tôi muốn nước
chúng tôi độc lập và thống nhất... Bọn quân phiệt thực dân đã bắt buộc chúng
tôi phải tiếp tục chiến đấu, chúng tôi sẽ chiến đấu đến cùng, chúng tôi lấy câu
châm ngôn hiên ngang của các bạn làm châm ngôn của chúng tôi: “Thà chết không
làm nô lệ”. Chúng tôi chiến đấu vì công lý. Chúng tôi sẽ tồn tại; chúng tôi sẽ
chiến thắng”.
Khi Mỹ thay chân Pháp trực tiếp dấn sâu vào cuộc
chiến tranh xâm lược Việt Nam, Hồ Chí Minh đã nói thẳng với Tổng thống Mỹ
Ken-nơ-đi rằng: “Việt Nam xa cách Hoa Kỳ hàng vạn dặm. Nhân dân Việt Nam và
nhân dân Hoa Kỳ không thù oán gì nhau. Ông có lý do gì mà gây nên cuộc chiến
tranh xâm lược ở miền Nam Việt Nam, hoang phí hàng tỷ đô-la của nhân dân Hoa Kỳ
để ủng hộ một chính quyền thối nát độc tài… Ông có quyền gì mà bắt buộc hàng vạn
thanh niên con em người Hoa Kỳ sang giết hại người miền Nam Việt Nam vô tội rồi
họ cũng bị chết trong cuộc chiến tranh phi nghĩa, bẩn thỉu ấy?”. Trả lời phóng
viên của tuần báo Mỹ, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Cho tới khi hàng vạn người đã
bị giết hại một cách tàn nhẫn và hàng chục vạn người khác bị giam cầm chết dần
chết mòn trong các nhà tù và trại tập trung của bọn Ngô Đình Diệm, đồng bào
chúng tôi ở miền Nam mới thấy không có con đường nào khác, ngoài con đường chiến
đấu để bảo vệ đời sống của mình và gia đình mình. Họ đau đớn phải lựa chọn giữa
hai con đường, hoặc là cầm vũ khí chiến đấu hoặc là bị tiêu diệt”.
Trong tình thế bất đắc dĩ buộc phải sử dụng đến
sức mạnh quân sự thì tư tưởng chủ đạo của Hồ Chí Minh là phải giảm tối đa sự đổ
máu không chỉ của quân dân ta mà ngay cả kẻ địch. Hồ Chí Minh đã thể hiện đầy đủ
lòng nhân ái, khoan dung của một người cộng sản, một người yêu nước chân chính,
một lãnh tụ cách mạng có tầm nhìn xa ngay từ việc xác định kẻ thù. Hồ Chí Minh
hướng cuộc đấu tranh của nhân dân ta vào kẻ thù phản động nguy hiểm nhất. Trong
quá trình tiến tới và nổ ra cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, Hồ Chí Minh
cùng với Đảng lãnh đạo nhân dân tập trung đánh vào những tên phản động đầu sỏ,
cô lập và trung lập quân Nhật, để vua Bảo Đại thoái vị, không gây nên cảnh
"nồi da xáo thịt", giảm bớt những hận thù. Trong cuộc trường kỳ kháng
chiến chống thực dân Pháp xâm lược nước ta lần thứ hai (1945-1954), Hồ Chí Minh
đã phân biệt rất rõ thực dân phản động Pháp với chủ nghĩa thực dân nói chung, tập
trung đánh vào bọn phản động.
Tính nhân văn, nhân đạo của Hồ Chí Minh trong
phương thức, hình thức đấu tranh “bạo lực cách mạng” đã làm cho tập đoàn cầm
quyền hiếu chiến của nước Mỹ bị cô lập đến cao độ. Họ không chỉ bị đồng minh lảng
tránh mà còn bị nhân dân Mỹ phản đối gay gắt trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt
Nam. Bọn phản động, tay sai của Mỹ ở miền Nam Việt Nam thực tế đã không có chỗ
đứng trong nhân dân, bị tiến công liên tục và cuối cùng bị sụp đổ.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét