VẤN ĐỀ BIỂN ĐÔNG
HIỆN NAY
Vị trí
Biển Đông trong chiến lược của Mỹ và Trung Quốc
Nếu thế kỷ XXI là “Thế kỷ Ấn Độ
Dương - Thái Bình Dương của Mỹ”, thì Tổng thống Mỹ cũng luôn tự coi mình là
“Tổng thống Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương”. Điều đó buộc Mỹ phải nắm giữ được
vị trí chiến lược của Biển Đông - “trái tim” của khu vực. Bởi, nước nào làm chủ
được Biển Đông sẽ làm chủ Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Do vậy, dù được gọi là
chiến lược gì đi nữa, Mỹ đều hướng tới sứ mệnh “chặn đứng quyết tâm” của Trung
Quốc nhằm xác lập vị trí đứng đầu ở khu vực, cũng như ngăn chặn mục tiêu của
Trung Quốc buộc các nước Đông Nam Á lệ thuộc vào mình.
Với Trung Quốc, Biển Đông được
chính quyền đương nhiệm coi là “lợi ích cốt lõi”, lá chắn bảo vệ vùng duyên hải
Đông Nam của Trung Quốc. Từ góc độ lịch sử cho thấy, một số quốc gia châu Âu và
Nhật Bản đã từng xâm lược Trung Quốc từ hướng biển. Đương nhiên, họ không muốn
kịch bản này tái diễn thêm một lần nữa. Do đó, Trung Quốc không ngừng tuyên bố
về chủ quyền “không thề tranh cãi” của họ đối với đòi hỏi “phi lý” về “đường
chín đoạn” trên Biển Đông. Mục tiêu chính của Trung Quốc là quyết tâm xóa bỏ sự
thống trị của Mỹ trên các vùng biển thuộc Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Đặc
biệt hơn, Biển Đông còn là “đồng tiền sinh mệnh”, là nhân tố quyết định sự
thành công của chiến lược “Một vành đai, một con đường” và ảnh hưởng lớn đến sự
thành bại của “Giấc mộng Trung Hoa”.
Chính
sách,
lợi ích của Mỹ
đối với Biển Đông hiện nay
Mặc dù luôn xác định Biển Đông có
vị trí hết sức quan trọng trong chiến lược toàn cầu nhằm duy trì địa vị siêu
cường duy nhất, tuy nhiên, việc xác định chính sách của Mỹ ở Biển Đông trong
từng giai đoạn cũng có những thay đổi nhất định. Trong thời kỳ cựu Tổng thống Mỹ
B.Obama, chính sách của Mỹ với vấn đề Biển Đông có đặc điểm là: (1) Khi Biển
Đông “nóng” sự can dự của Mỹ ở khu vực này sẽ gia tăng. Khi tranh chấp có phần
hòa dịu, động cơ và hành động can dự của Mỹ cũng sẽ giảm xuống; (2) Tìm cách
kiểm soát xung đột giữa Trung Quốc và các nước có tuyên bố chủ quyền trong khu
vực; (3) ASEAN được sử dụng để ràng buộc các hành vi của Trung Quốc, tránh để
xảy ra xung đột trực tiếp giữa Mỹ và Trung Quốc. Nguyên nhân cơ bản của chính
sách nói trên là do Mỹ muốn tránh đầu tư chiến lược quá nhiều và không để năng
lực chi phối của Mỹ trong các vấn đề khác bị ảnh hưởng.
Từ khi trở thành Tổng thống Mỹ
đến nay, D.Trump dường như muốn xóa bỏ hoàn toàn “trật tự bàn cờ cũ” để chơi
một “ván cờ quyền lực” mới. Do vậy, chính sách đối với vấn đề ở Biển Đông của
Mỹ cũng có những thay đổi nhất định. Sau khi nắm quyền, D.Trump nhiều lần công
khai chỉ trích hành vi phi pháp của Trung Quốc xây dựng trên các đảo, đá ở Biển
Đông. Không những thế, Tổng thống Mỹ còn công khai phản đối yêu sách chủ quyền
của Trung Quốc đối với các đảo, đá ở vùng biển này. Điều đó thể hiện sự khác
biệt khá lớn so với những phát ngôn của Chính quyền Obama tuyên bố những đảo,
đá này là “những cấu trúc địa hình có tranh chấp”.
Ngày16.8.2018, trợ lý Bộ trưởng
Quốc phòng Mỹ phụ trách vấn đề an ninh châu Á - Thái Bình Dương Randall
Schriver tuyên bố, Oasinhtơn sẽ không để Trung Quốc đơn phương tuyên bố chủ
quyền và áp đặt quy tắc hàng hải tại Biển Đông. Ông nhấn mạnh, “chúng tôi sẽ
không cho phép Trung Quốc viết lại các quy tắc hàng hải hay thay đổi luật pháp
quốc tế tại Biển Đông”. Gần đây, ngày 15.11.2018, tại cuộc họp báo ở Xingapo,
Phó Tổng thống Mỹ Mike Pence nhấn mạnh: Biển Đông không thuộc về bất cứ quốc gia
nào và mọi người có thể chắc chắn rằng, Mỹ sẽ tiếp tục cho tàu và máy bay đi
qua bất kỳ nơi nào luật pháp cho phép và lợi ích quốc gia của chúng tôi được
đáp ứng. Theo các nhà phân tích, lợi ích của Mỹ ở Biển Đông được thể hiện trên
các phương diện chính sau:
Thứ nhất, đảm bảo quyền tự do
hàng hải và duy trì “sự ổn định ” của khu vực châu Á
Chuyên gia
về chính sách hàng hải Trung Quốc tại Viện Công nghệ Massachusetts - M.Taylor
Frave cho rằng, từ trước đến nay Mỹ có hai lợi ích chiến lược quan trọng ở Biển
Đông: Thực hiện quyền tự do hàng hải và duy trì sự ổn định của khu vực châu Á.
Trong đó, bảo đảm sự hiện diện của Mỹ trong khu vực, cũng như không bị cản trở
khi tiến vào Biển Đông là mục tiêu quan trọng hàng đầu. Ngoài ra, Mỹ cũng có
lợi ích lớn trong việc duy trì sự ổn định của khu vực châu Á, vì sự phồn vinh
của Mỹ phụ thuộc vào sự ổn định của khu vực này. Đối với Mỹ, bất kỳ mối đe dọa
nào đối với an ninh đường biển, đều sẽ làm lượng hàng hóa xuất, nhập khẩu của
Mỹ giảm xuống, thậm chí là suy thoái, ảnh hưởng đến hoạt động ổn định và phát
triển lâu dài của kinh tế Mỹ.
Thứ hai, đảm bảo sự chi phối và
kiểm soát đối với trật tự khu vực
Mỹ phải duy trì cam kết an ninh
đối với các nước đồng minh và thông qua đồng minh để bảo đảm sự chi phối và
kiểm soát đối với trật tự khu vực. Tuy nhiên, Mỹ lại không muốn bị cuốn vào
tranh chấp cụ thể của các đồng minh. Cho nên, Mỹ dựa vào lập trường trung lập
để từ bỏ trách nhiệm, lợi dụng các nước đồng minh trong khu vực để kiềm chế
Trung Quốc, tránh để phải trả giá quá nhiều. Dù vậy, Mỹ vẫn là nước chi phối
lớn nhất, có vai trò hết sức quan trọng đối với tiến trình giải quyết hòa bình
trong vấn đề Biển Đông.
Thứ ba, sự đan xen giữa lợi ích
kinh tế và an ninh, quân sự
Đối với Mỹ, Biển Đông có giá trị
chiến lược kép, đó là lợi ích đan xen của kinh tế và an ninh quân sự. Cho dù
với tư cách là tuyến đường điều chuyển sức mạnh quân sự hay với tư cách là khu
phát triển kinh tế có trữ lượng dầu khí và tài nguyên biển lớn, Biển Đông đều
là trọng điểm lợi ích chiến lược mà Mỹ đặc biệt coi trọng. Biển Đông chính là
điểm trung tâm kết nối Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương của Quân đội Mỹ. Vì vậy,
duy trì sự thông thoáng của tuyến đường chiến lược này sẽ giảm bớt thời gian
triển khai Quân đội Mỹ can dự vào tranh chấp khu vực hoặc xung đột ở eo biển
Đài Loan. Không những thế, Biển Đông còn là một trong những căn cứ tiền duyên
để Quân đội Mỹ thực hiện hoạt động chống khủng bố. Tóm lại, tất cả những xen
cài về lợi ích tài nguyên, địa lý và an ninh, làm cho giá trị địa chiến lược
của Biển Đông đối với Mỹ ngày càng cao và sự can dự của Mỹ vào khu vực này cũng
vì thế mà ngày càng sâu hơn.
Tính hai mặt trong chính sách của
Mỹ với vấn đề Biển Đông
Với chiến lược Ấn Độ Dương - Thái
Bình Dương, lợi ích của Mỹ trên Biển Đông là rất lớn. Tuy nhiên, với quan điểm
“Nước Mỹ trên hết”, chính sách của Mỹ trong giải quyết vấn đề Biên Đông sẽ tiếp
tục duy trì tính hai mặt “gây căng thẳng, nhưng không can dự sâu để giải quyết
triệt để”. Cụ thể:
Tiếp tục tăng cường tuần tra hàng
hải, hàng không khiến tình hình khu vực và quan hệ giữa Mỹ với Trung Quốc trở
nên căng thẳng
Trợ lý Bộ
trưởng Quốc phòng Mỹ Schriver khẳng định: “Chúng tôi sẽ tiếp tục điều máy bay,
tàu chiến di chuyển và hoạt động tuần tra ở mọi khu vực mà luật pháp quốc tế
cho phép. Quan điểm của Quân đội Mỹ là sẽ tiếp tục việc tuần tra một cách hợp
pháp tại khu vực Biển Đông”. Đồng thời, Mỹ cũng hướng tới khả năng tăng cường
tuần tra ở Biển Đông để thách thức động thái quân sự hóa ngày càng gia tăng của
Trung Quốc. Bên cạnh việc điều nhiều lượt tàu khu trục tuần tra, Mỹ còn đưa máy
bay chiến lược hạng nặng bay tuần tra, thị sát khu vực này khiến quan hệ Mỹ -
Trung ngày càng trở nên căng thẳng. Trong năm 2018, Mỹ đã 03 lần đưa máy bay
B-52 đến tuần tra khu vực biển này và bị Bắc Kinh cáo buộc là hành động “khiêu
khích”. Trong khi đó Mỹ cho rằng, việc điều máy bay B-52 đến khu vực Biển Đông
là hoạt động thường kỳ, trong khuôn khổ chiến dịch tuần tra bảo vệ “tự do hàng
hải” cùng các đồng minh.
Cùng với đó, giới chức Mỹ cũng
hối thúc các đồng minh và đối tác quốc tế tăng cường triển khai lực lượng hàng
hải ở tuyến thương mại trọng yếu trên Biển Đông. Đáp lại yêu cầu của Mỹ, Bộ
trưởng Quốc phòng Anh, Pháp tại Đối thoại Shangri-La 2018 tuyên bố, Luân Đôn và
Pari sẽ cho máy bay, tàu chiến chạy qua Biển Đông. Như để hiện thực hóa phát
biểu của hai bộ trưởng quốc phòng, ngày 27.8.2018, phi đội 100 thành viên do
Tướng Patrick Charaix dẫn đầu cùng máy bay vặn tải A400M, máy bay tiếp vận C-135
và máy bay A310 đang hoạt động trong khuôn khố chiến dịch PEGASE ở châu Á - Thái Bình Dương của Pháp đã
ghé thăm Hà Nội. Ngoài Việt Nam, đoàn cũng ghé thăm các nước Inđônêxia, Malaixia,
Xingapo và Ấn Độ. Trước đó, tàu hộ vệ HMS Sutherland F81 của Hải quân Anh cũng
đã tuần tra khu vực Biển Đông và bị 16 tàu chiến của Trung Quốc bám sát, bao
vây.
Cùng với các hoạt động của Không
quân, Hải quân Mỹ và đồng minh, Trung Quốc dường như cũng tăng tốc độ củng cố
năng lực quân sự phi pháp trên hai quẩn đảo Hoàng Sa và Trường Sa (thuộc Việt
Nam), đã khiến vùng biển này “nóng lên”. Theo ảnh vệ tinh từ ngày 12.5.2018,
Trung Quốc đã triển khai các tên lửa đất đối không và tên lửa chống hạm trên đảo
Phú Lâm. Một số tên lửa hành trình chống hạm và tên lửa phòng không cũng được
Trung Quốc đưa tới căn cứ lớn nhất mà nước này chiếm đóng và xây dựng trái phép
trên các đảo nhân tạo thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Phát biểu bên lề
hội nghị Shangri-La, Hà Lôi - Phó Viện trưởng Viện Khoa học quân sự Trung Quốc
trắng trợn thừa nhận, Bắc Kinh đang triển khai quân đội và vũ khí tới các đảo
đá ở Biển Đông. Tuyên bố này hoàn toàn trái ngược với những cam kết mà Chủ tịch
Trung Quốc Tập Cận Bình đưa ra tại cuộc gặp năm 2015 với cựu Tổng thống Mỹ
Barack Obama.
Tỏ rõ lập trường cứng rắn, nhưng
Mỹ không thực sự muốn giải quyết triệt để vấn đề Biển Đông
Tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao
ASEAN năm 2016 và 2017, Ngoại trường Mỹ, Nhật Bản và Ôxtrâylia đưa ra tuyên bố
chung, chỉ trích hoạt động xây dựng của Trung Quốc trên các đảo, đá nhân tạo.
Đồng thời, khẳng định, phán quyết của Tòa Trọng tài về Biển Đông có sức ràng
buộc với các nước liên quan. Thể hiện lập trường cứng rắn với hành vi lấp biển
và quân sự hóa của Trung Quốc trên các đảo đá ở Biển Đông, Chính quyền D.Trump
còn đề cập đến “Thuyết về mối đe dọa từ Trung Quốc”, công khai phê phán hành vi
lấp biển, quân sự hóa các đảo nhân tạo, đe dọa tiến công các nước láng giềng.
Theo đó, Mỹ liên tục tăng cường tuần tra bằng lực lượng hải quân, không quân và
hoạt động trinh sát quân sự đối với Trung Quốc ở Biển Đông. Tuy nhiên, cần nhận
thức rằng lập trường cứng rắn không đồng nghĩa với việc Mỹ muốn can dự sâu hơn
và giải quyết triệt để những xung đột, căng thẳng đang diễn ra trên Biển Đông
hiện nay.
Sở dĩ, Mỹ muốn duy trì cục diện
trì hoãn, không giải quyết triệt để vấn đề Biển Đông là do Chính quyền D.Trump
lo ngại tình hình Biển Đông hòa dịu và tranh chấp giữa các bên lắng xuống sẽ
làm cho Trung Quốc lại nắm được quyền chủ động trong diễn biến ở khu vực, tăng
thêm năng lực chi phối đối với vấn đề Biển Đông. Mặt khác, Chính quyền Mỹ cũng
sợ các nước tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông như Việt Nam, Philippin, Malaixia...
dựa vào sự hỗ trợ mạnh mẽ của các nước bên ngoài như Mỹ, Nhật Bản, Ôxtrâylia, Ấn
Độ... để mặc cả, đưa ra điều kiện và yêu cầu cao, hoặc “chọc giận” Trung Quốc,
làm cho Mỹ rơi vào cảnh ngộ tiến thoái lưỡng nan.
Gây căng thẳng, nhưng Mỹ muốn duy
trì cục diện trì hoãn không giải quyết triệt để, bởi điều đó sẽ đem đến cho Mỹ
khá nhiều lợi ích: (1) Xây dựng mạng lưới đồng minh với Mỹ làm trung tâm, các
nước đồng minh làm trụ cột cùng với các nước tranh chấp thực hiện bao vây chiến
lược, dài hạn đối với Trung Quốc; (2) Làm suy yếu khả năng quân sự bố trí trên
các đảo, đá và năng lực kiềm soát thực tế của Trung Quốc trên vùng biển. Đồng
thời, mở rộng ảnh hưởng, tăng cường khả năng kiểm soát của Mỹ với các vấn đề
khác trong khu vực Biển Đông; (3) Chính quyền D.Trump coi vấn đề Biển Đông là
lá bài quan trọng để kiềm chế sự "trỗi dậy" của Trung Quốc. Do đó,
chi cần Mỹ duy trì sự can dự và gây sức ép liên tục trên Biển Đông thì có thể
phong tỏa chiến lược trên biển của Trung Quốc, ngăn Trung Quốc tiến sâu hơn vào
khu Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, đe dọa quyền chi phối đại dương của Mỹ.
Gây căng thẳng, duy trì các hoạt
động tuần tra hàng hải, hàng không và lôi kéo các đồng minh trong và ngoài khu
vực tiến hành các hoạt động quân sự trên Biển Đông của Mỹ không nằm ngoài mục
đích bảo đảm lợi ích, nhưng điều quan trọng hơn là kiềm chế Trung Quốc – đối
thủ thế kỷ có khả năng cạnh tranh ngôi vị lãnh đạo thế giới với Mỹ. Chắc chắn
khi căng thẳng gia tăng, Trung Quốc phải tăng chi phí, dẫn đến bội chi ngân
sách. Đặc biệt, trong bối cảnh kinh tế Trung Quốc đang trong thời kỳ “hạ cánh
mềm”; cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung tiếp tục leo thang mà chưa tìm ra giải
pháp vãn hồi, cùng với việc các nước dần nhận ra chính sách “ngoại giao bẫy nợ”
của Trung Quốc..., thì việc tăng thêm chi phí quốc phòng sẽ ảnh hưởng không nhỏ
đến sự thành bại của chiến lược “Một vành đai, một con đường”, cũng như hiện
thực hóa “Giấc mộng Trung Hoa” của chính quyền đương nhiệm.
Nằm ở vị trí được Tổng thống Mỹ
D.Trump nhận định là “trái tim” của khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương,
chính sách hai mặt của Mỹ đối với vấn đề Biển Đông vừa tạo ra thời cơ, nhưng
cũng đặt Việt Nam trước những thách thức không nhỏ. Theo đó, chúng ta cần tranh
thủ sự ủng hộ cũng như tăng cường hợp tác toàn diện với các nước lớn và các
nước trong khu vực không chỉ trên phương diện ngoại giao, kinh tế mà còn cả
trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Bên cạnh đó, phải hết sức cảnh giác với
chính sách có tính hai mặt đối với vấn đề Biển Đông, không đề các thế lực khác
lợi dụng, kích động và lôi cuốn Việt Nam vào cuộc tranh chấp, đối đầu giữa các
nước lớn. Tuy nhiên, trong bối cảnh Hoàng Sa và một phần Trường Sa đang bị nước
ngoài chiếm đóng, chúng ta không được để vấn đề này trở lên “nguội lạnh”, mà
những phần lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc phải luôn được sưởi ấm trong trái
tim của mỗi người dân nước Việt.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét