Thứ Bảy, 14 tháng 12, 2019

VẤN ĐỀ BIỂN ĐÔNG HIỆN NAY
       Vị trí Biển Đông trong chiến lược của Mỹ và Trung Quốc
Nếu thế kỷ XXI là “Thế kỷ Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương của Mỹ”, thì Tổng thống Mỹ cũng luôn tự coi mình là “Tổng thống Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương”. Điều đó buộc Mỹ phải nắm giữ được vị trí chiến lược của Biển Đông - “trái tim” của khu vực. Bởi, nước nào làm chủ được Biển Đông sẽ làm chủ Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Do vậy, dù được gọi là chiến lược gì đi nữa, Mỹ đều hướng tới sứ mệnh “chặn đứng quyết tâm” của Trung Quốc nhằm xác lập vị trí đứng đầu ở khu vực, cũng như ngăn chặn mục tiêu của Trung Quốc buộc các nước Đông Nam Á lệ thuộc vào mình.
Với Trung Quốc, Biển Đông được chính quyền đương nhiệm coi là “lợi ích cốt lõi”, lá chắn bảo vệ vùng duyên hải Đông Nam của Trung Quốc. Từ góc độ lịch sử cho thấy, một số quốc gia châu Âu và Nhật Bản đã từng xâm lược Trung Quốc từ hướng biển. Đương nhiên, họ không muốn kịch bản này tái diễn thêm một lần nữa. Do đó, Trung Quốc không ngừng tuyên bố về chủ quyền “không thề tranh cãi” của họ đối với đòi hỏi “phi lý” về “đường chín đoạn” trên Biển Đông. Mục tiêu chính của Trung Quốc là quyết tâm xóa bỏ sự thống trị của Mỹ trên các vùng biển thuộc Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Đặc biệt hơn, Biển Đông còn là “đồng tiền sinh mệnh”, là nhân tố quyết định sự thành công của chiến lược “Một vành đai, một con đường” và ảnh hưởng lớn đến sự thành bại của “Giấc mộng Trung Hoa”.
Chính sách, lợi ích của Mỹ đối với Biển Đông hiện nay
Mặc dù luôn xác định Biển Đông có vị trí hết sức quan trọng trong chiến lược toàn cầu nhằm duy trì địa vị siêu cường duy nhất, tuy nhiên, việc xác định chính sách của Mỹ ở Biển Đông trong từng giai đoạn cũng có những thay đổi nhất định. Trong thời kỳ cựu Tổng thống Mỹ B.Obama, chính sách của Mỹ với vấn đề Biển Đông có đặc điểm là: (1) Khi Biển Đông “nóng” sự can dự của Mỹ ở khu vực này sẽ gia tăng. Khi tranh chấp có phần hòa dịu, động cơ và hành động can dự của Mỹ cũng sẽ giảm xuống; (2) Tìm cách kiểm soát xung đột giữa Trung Quốc và các nước có tuyên bố chủ quyền trong khu vực; (3) ASEAN được sử dụng để ràng buộc các hành vi của Trung Quốc, tránh để xảy ra xung đột trực tiếp giữa Mỹ và Trung Quốc. Nguyên nhân cơ bản của chính sách nói trên là do Mỹ muốn tránh đầu tư chiến lược quá nhiều và không để năng lực chi phối của Mỹ trong các vấn đề khác bị ảnh hưởng.
Từ khi trở thành Tổng thống Mỹ đến nay, D.Trump dường như muốn xóa bỏ hoàn toàn “trật tự bàn cờ cũ” để chơi một “ván cờ quyền lực” mới. Do vậy, chính sách đối với vấn đề ở Biển Đông của Mỹ cũng có những thay đổi nhất định. Sau khi nắm quyền, D.Trump nhiều lần công khai chỉ trích hành vi phi pháp của Trung Quốc xây dựng trên các đảo, đá ở Biển Đông. Không những thế, Tổng thống Mỹ còn công khai phản đối yêu sách chủ quyền của Trung Quốc đối với các đảo, đá ở vùng biển này. Điều đó thể hiện sự khác biệt khá lớn so với những phát ngôn của Chính quyền Obama tuyên bố những đảo, đá này là “những cấu trúc địa hình có tranh chấp”.
Ngày16.8.2018, trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ phụ trách vấn đề an ninh châu Á - Thái Bình Dương Randall Schriver tuyên bố, Oasinhtơn sẽ không để Trung Quốc đơn phương tuyên bố chủ quyền và áp đặt quy tắc hàng hải tại Biển Đông. Ông nhấn mạnh, “chúng tôi sẽ không cho phép Trung Quốc viết lại các quy tắc hàng hải hay thay đổi luật pháp quốc tế tại Biển Đông”. Gần đây, ngày 15.11.2018, tại cuộc họp báo ở Xingapo, Phó Tổng thống Mỹ Mike Pence nhấn mạnh: Biển Đông không thuộc về bất cứ quốc gia nào và mọi người có thể chắc chắn rằng, Mỹ sẽ tiếp tục cho tàu và máy bay đi qua bất kỳ nơi nào luật pháp cho phép và lợi ích quốc gia của chúng tôi được đáp ứng. Theo các nhà phân tích, lợi ích của Mỹ ở Biển Đông được thể hiện trên các phương diện chính sau:
Thứ nhất, đảm bảo quyền tự do hàng hải và duy trì “sự ổn định ” của khu vực châu Á
Chuyên gia về chính sách hàng hải Trung Quốc tại Viện Công nghệ Massachusetts - M.Taylor Frave cho rằng, từ trước đến nay Mỹ có hai lợi ích chiến lược quan trọng ở Biển Đông: Thực hiện quyền tự do hàng hải và duy trì sự ổn định của khu vực châu Á. Trong đó, bảo đảm sự hiện diện của Mỹ trong khu vực, cũng như không bị cản trở khi tiến vào Biển Đông là mục tiêu quan trọng hàng đầu. Ngoài ra, Mỹ cũng có lợi ích lớn trong việc duy trì sự ổn định của khu vực châu Á, vì sự phồn vinh của Mỹ phụ thuộc vào sự ổn định của khu vực này. Đối với Mỹ, bất kỳ mối đe dọa nào đối với an ninh đường biển, đều sẽ làm lượng hàng hóa xuất, nhập khẩu của Mỹ giảm xuống, thậm chí là suy thoái, ảnh hưởng đến hoạt động ổn định và phát triển lâu dài của kinh tế Mỹ.
Thứ hai, đảm bảo sự chi phối và kiểm soát đối với trật tự khu vực
Mỹ phải duy trì cam kết an ninh đối với các nước đồng minh và thông qua đồng minh để bảo đảm sự chi phối và kiểm soát đối với trật tự khu vực. Tuy nhiên, Mỹ lại không muốn bị cuốn vào tranh chấp cụ thể của các đồng minh. Cho nên, Mỹ dựa vào lập trường trung lập để từ bỏ trách nhiệm, lợi dụng các nước đồng minh trong khu vực để kiềm chế Trung Quốc, tránh để phải trả giá quá nhiều. Dù vậy, Mỹ vẫn là nước chi phối lớn nhất, có vai trò hết sức quan trọng đối với tiến trình giải quyết hòa bình trong vấn đề Biển Đông.
Thứ ba, sự đan xen giữa lợi ích kinh tế và an ninh, quân sự
Đối với Mỹ, Biển Đông có giá trị chiến lược kép, đó là lợi ích đan xen của kinh tế và an ninh quân sự. Cho dù với tư cách là tuyến đường điều chuyển sức mạnh quân sự hay với tư cách là khu phát triển kinh tế có trữ lượng dầu khí và tài nguyên biển lớn, Biển Đông đều là trọng điểm lợi ích chiến lược mà Mỹ đặc biệt coi trọng. Biển Đông chính là điểm trung tâm kết nối Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương của Quân đội Mỹ. Vì vậy, duy trì sự thông thoáng của tuyến đường chiến lược này sẽ giảm bớt thời gian triển khai Quân đội Mỹ can dự vào tranh chấp khu vực hoặc xung đột ở eo biển Đài Loan. Không những thế, Biển Đông còn là một trong những căn cứ tiền duyên để Quân đội Mỹ thực hiện hoạt động chống khủng bố. Tóm lại, tất cả những xen cài về lợi ích tài nguyên, địa lý và an ninh, làm cho giá trị địa chiến lược của Biển Đông đối với Mỹ ngày càng cao và sự can dự của Mỹ vào khu vực này cũng vì thế mà ngày càng sâu hơn.
Tính hai mặt trong chính sách của Mỹ với vấn đề Biển Đông
Với chiến lược Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, lợi ích của Mỹ trên Biển Đông là rất lớn. Tuy nhiên, với quan điểm “Nước Mỹ trên hết”, chính sách của Mỹ trong giải quyết vấn đề Biên Đông sẽ tiếp tục duy trì tính hai mặt “gây căng thẳng, nhưng không can dự sâu để giải quyết triệt để”. Cụ thể:
Tiếp tục tăng cường tuần tra hàng hải, hàng không khiến tình hình khu vực và quan hệ giữa Mỹ với Trung Quốc trở nên căng thẳng
Trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Schriver khẳng định: “Chúng tôi sẽ tiếp tục điều máy bay, tàu chiến di chuyển và hoạt động tuần tra ở mọi khu vực mà luật pháp quốc tế cho phép. Quan điểm của Quân đội Mỹ là sẽ tiếp tục việc tuần tra một cách hợp pháp tại khu vực Biển Đông”. Đồng thời, Mỹ cũng hướng tới khả năng tăng cường tuần tra ở Biển Đông để thách thức động thái quân sự hóa ngày càng gia tăng của Trung Quốc. Bên cạnh việc điều nhiều lượt tàu khu trục tuần tra, Mỹ còn đưa máy bay chiến lược hạng nặng bay tuần tra, thị sát khu vực này khiến quan hệ Mỹ - Trung ngày càng trở nên căng thẳng. Trong năm 2018, Mỹ đã 03 lần đưa máy bay B-52 đến tuần tra khu vực biển này và bị Bắc Kinh cáo buộc là hành động “khiêu khích”. Trong khi đó Mỹ cho rằng, việc điều máy bay B-52 đến khu vực Biển Đông là hoạt động thường kỳ, trong khuôn khổ chiến dịch tuần tra bảo vệ “tự do hàng hải” cùng các đồng minh.
Cùng với đó, giới chức Mỹ cũng hối thúc các đồng minh và đối tác quốc tế tăng cường triển khai lực lượng hàng hải ở tuyến thương mại trọng yếu trên Biển Đông. Đáp lại yêu cầu của Mỹ, Bộ trưởng Quốc phòng Anh, Pháp tại Đối thoại Shangri-La 2018 tuyên bố, Luân Đôn và Pari sẽ cho máy bay, tàu chiến chạy qua Biển Đông. Như để hiện thực hóa phát biểu của hai bộ trưởng quốc phòng, ngày 27.8.2018, phi đội 100 thành viên do Tướng Patrick Charaix dẫn đầu cùng máy bay vặn tải A400M, máy bay tiếp vận C-135 và máy bay A310 đang hoạt động trong khuôn khố chiến dịch PEGASE châu Á - Thái Bình Dương của Pháp đã ghé thăm Hà Nội. Ngoài Việt Nam, đoàn cũng ghé thăm các nước Inđônêxia, Malaixia, Xingapo và Ấn Độ. Trước đó, tàu hộ vệ HMS Sutherland F81 của Hải quân Anh cũng đã tuần tra khu vực Biển Đông và bị 16 tàu chiến của Trung Quốc bám sát, bao vây.
Cùng với các hoạt động của Không quân, Hải quân Mỹ và đồng minh, Trung Quốc dường như cũng tăng tốc độ củng cố năng lực quân sự phi pháp trên hai quẩn đảo Hoàng Sa và Trường Sa (thuộc Việt Nam), đã khiến vùng biển này “nóng lên”. Theo ảnh vệ tinh từ ngày 12.5.2018, Trung Quốc đã triển khai các tên lửa đất đối không và tên lửa chống hạm trên đảo Phú Lâm. Một số tên lửa hành trình chống hạm và tên lửa phòng không cũng được Trung Quốc đưa tới căn cứ lớn nhất mà nước này chiếm đóng và xây dựng trái phép trên các đảo nhân tạo thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Phát biểu bên lề hội nghị Shangri-La, Hà Lôi - Phó Viện trưởng Viện Khoa học quân sự Trung Quốc trắng trợn thừa nhận, Bắc Kinh đang triển khai quân đội và vũ khí tới các đảo đá ở Biển Đông. Tuyên bố này hoàn toàn trái ngược với những cam kết mà Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đưa ra tại cuộc gặp năm 2015 với cựu Tổng thống Mỹ Barack Obama.
 Tỏ rõ lập trường cứng rắn, nhưng Mỹ không thực sự muốn giải quyết triệt để vấn đề Biển Đông
Tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN năm 2016 và 2017, Ngoại trường Mỹ, Nhật Bản và Ôxtrâylia đưa ra tuyên bố chung, chỉ trích hoạt động xây dựng của Trung Quốc trên các đảo, đá nhân tạo. Đồng thời, khẳng định, phán quyết của Tòa Trọng tài về Biển Đông có sức ràng buộc với các nước liên quan. Thể hiện lập trường cứng rắn với hành vi lấp biển và quân sự hóa của Trung Quốc trên các đảo đá ở Biển Đông, Chính quyền D.Trump còn đề cập đến “Thuyết về mối đe dọa từ Trung Quốc”, công khai phê phán hành vi lấp biển, quân sự hóa các đảo nhân tạo, đe dọa tiến công các nước láng giềng. Theo đó, Mỹ liên tục tăng cường tuần tra bằng lực lượng hải quân, không quân và hoạt động trinh sát quân sự đối với Trung Quốc ở Biển Đông. Tuy nhiên, cần nhận thức rằng lập trường cứng rắn không đồng nghĩa với việc Mỹ muốn can dự sâu hơn và giải quyết triệt để những xung đột, căng thẳng đang diễn ra trên Biển Đông hiện nay.
Sở dĩ, Mỹ muốn duy trì cục diện trì hoãn, không giải quyết triệt để vấn đề Biển Đông là do Chính quyền D.Trump lo ngại tình hình Biển Đông hòa dịu và tranh chấp giữa các bên lắng xuống sẽ làm cho Trung Quốc lại nắm được quyền chủ động trong diễn biến ở khu vực, tăng thêm năng lực chi phối đối với vấn đề Biển Đông. Mặt khác, Chính quyền Mỹ cũng sợ các nước tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông như Việt Nam, Philippin, Malaixia... dựa vào sự hỗ trợ mạnh mẽ của các nước bên ngoài như Mỹ, Nhật Bản, Ôxtrâylia, Ấn Độ... để mặc cả, đưa ra điều kiện và yêu cầu cao, hoặc “chọc giận” Trung Quốc, làm cho Mỹ rơi vào cảnh ngộ tiến thoái lưỡng nan.
Gây căng thẳng, nhưng Mỹ muốn duy trì cục diện trì hoãn không giải quyết triệt để, bởi điều đó sẽ đem đến cho Mỹ khá nhiều lợi ích: (1) Xây dựng mạng lưới đồng minh với Mỹ làm trung tâm, các nước đồng minh làm trụ cột cùng với các nước tranh chấp thực hiện bao vây chiến lược, dài hạn đối với Trung Quốc; (2) Làm suy yếu khả năng quân sự bố trí trên các đảo, đá và năng lực kiềm soát thực tế của Trung Quốc trên vùng biển. Đồng thời, mở rộng ảnh hưởng, tăng cường khả năng kiểm soát của Mỹ với các vấn đề khác trong khu vực Biển Đông; (3) Chính quyền D.Trump coi vấn đề Biển Đông là lá bài quan trọng để kiềm chế sự "trỗi dậy" của Trung Quốc. Do đó, chi cần Mỹ duy trì sự can dự và gây sức ép liên tục trên Biển Đông thì có thể phong tỏa chiến lược trên biển của Trung Quốc, ngăn Trung Quốc tiến sâu hơn vào khu Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, đe dọa quyền chi phối đại dương của Mỹ.
Gây căng thẳng, duy trì các hoạt động tuần tra hàng hải, hàng không và lôi kéo các đồng minh trong và ngoài khu vực tiến hành các hoạt động quân sự trên Biển Đông của Mỹ không nằm ngoài mục đích bảo đảm lợi ích, nhưng điều quan trọng hơn là kiềm chế Trung Quốc – đối thủ thế kỷ có khả năng cạnh tranh ngôi vị lãnh đạo thế giới với Mỹ. Chắc chắn khi căng thẳng gia tăng, Trung Quốc phải tăng chi phí, dẫn đến bội chi ngân sách. Đặc biệt, trong bối cảnh kinh tế Trung Quốc đang trong thời kỳ “hạ cánh mềm”; cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung tiếp tục leo thang mà chưa tìm ra giải pháp vãn hồi, cùng với việc các nước dần nhận ra chính sách “ngoại giao bẫy nợ” của Trung Quốc..., thì việc tăng thêm chi phí quốc phòng sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến sự thành bại của chiến lược “Một vành đai, một con đường”, cũng như hiện thực hóa “Giấc mộng Trung Hoa” của chính quyền đương nhiệm.
Nằm ở vị trí được Tổng thống Mỹ D.Trump nhận định là “trái tim” của khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, chính sách hai mặt của Mỹ đối với vấn đề Biển Đông vừa tạo ra thời cơ, nhưng cũng đặt Việt Nam trước những thách thức không nhỏ. Theo đó, chúng ta cần tranh thủ sự ủng hộ cũng như tăng cường hợp tác toàn diện với các nước lớn và các nước trong khu vực không chỉ trên phương diện ngoại giao, kinh tế mà còn cả trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Bên cạnh đó, phải hết sức cảnh giác với chính sách có tính hai mặt đối với vấn đề Biển Đông, không đề các thế lực khác lợi dụng, kích động và lôi cuốn Việt Nam vào cuộc tranh chấp, đối đầu giữa các nước lớn. Tuy nhiên, trong bối cảnh Hoàng Sa và một phần Trường Sa đang bị nước ngoài chiếm đóng, chúng ta không được để vấn đề này trở lên “nguội lạnh”, mà những phần lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc phải luôn được sưởi ấm trong trái tim của mỗi người dân nước Việt.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét