TƯ TƯỞNG KHÁNG CHIẾN TOÀN DÂN TRONG
“LỜI KÊU GỌI TOÀN QUỐC KHÁNG CHIẾN” CỦA HỒ CHÍ MINH
HOA SÚNG
Trước yêu
cầu bức thiết của lịch sử, ngày 18 và 19-12-1946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng
tổ chức cuộc họp mở rộng khẩn cấp tại Vạn Phúc, Hà Đông do Chủ tịch Hồ Chí Minh
chủ trì; quyết định chủ trương phát động cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
xâm lược trên phạm vi cả nước; đề ra đường lối, chủ trương kháng chiến chống
Pháp xâm lược là kháng chiến lâu dài. Ngay đêm 19-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh
thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Lời
kêu gọi chỉ có 19 dòng, 199 từ ngắn gọn và súc tích, nhưng đã thể hiện những
quan điểm cốt lõi của Người về kháng chiến toàn dân cũng như mệnh lệnh của non
sông, thôi thúc cả dân tộc chung sức, đồng lòng vùng dậy quyết chiến, quyết
thắng quân Pháp xâm lược.
Kế thừa
những lý luận trong học thuyết quân sự Mác - Lê-nin, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
phân biệt rõ đâu là chiến tranh chính nghĩa, cách mạng và đâu là chiến tranh
phi nghĩa, phản cách mạng. Người cho rằng, quần chúng nhân dân lao động, nếu
được giác ngộ và có nhận thức đúng đắn, sẽ ủng hộ và hăng hái tham gia cuộc
chiến tranh chính nghĩa. Vì thế, chỉ có chiến tranh chính nghĩa mới có thể huy
động, tập hợp được đông đảo quần chúng, được toàn dân tham gia chiến đấu. Có
thể thấy, chiến tranh nhân dân do toàn dân ta tiến hành nhằm giành lại và giữ
vững nền độc lập, tự do cho Tổ quốc mình là chiến tranh chính nghĩa. Khẳng định
tính chính nghĩa là một trong những nhân tố hàng đầu để đưa cuộc chiến tranh
của nhân dân ta đi đến thắng lợi, cho dù phải trải qua muôn vàn gian khổ, hy
sinh, thậm chí kéo dài, “chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu
mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ… Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng
với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta”.
Chủ tịch
Hồ Chí Minh coi độc lập dân tộc và tự do hòa bình là mục tiêu phấn đấu suốt đời
mình. Thế nhưng trong điều kiện phải đương đầu với kẻ thù xâm lược có sức mạnh
quân sự và kinh tế lớn hơn ta nhiều lần, có quân số đông và vũ khí hiện đại,
cần phải huy động sức mạnh của toàn dân để chiến dấu. Muốn đánh bại kẻ thù hung
bạo, mạnh hơn ta gấp bội thì mỗi người dân Việt Nam đều phải trở thành chiến sĩ
đứng lên bảo vệ độc lập, chủ quyền đất nước. Khi nhấn mạnh vai trò của nhân
dân, về tính chất chính nghĩa, động lực của cuộc kháng chiến là bảo vệ độc lập
dân tộc và thống nhất Tổ quốc, Người khẳng định: “Chúng ta muốn hoà bình, chúng
ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn
tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa. Không! Chúng ta thà hy sinh tất
cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Bằng sự
khẳng định đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định mục đích chính nghĩa của cuộc
kháng chiến và lòng tin tưởng của Người vào sức mạnh ý chí bảo vệ độc lập, tự
do và thống nhất Tổ quốc của nhân dân ta.
Từ quan
điểm về vai trò của con người trong lĩnh vực quân sự và lòng tin vào sức mạnh
của nhân dân - có dân là có tất cả, Người nhấn mạnh, phải dựa vào dân, khơi
nguồn sức mạnh, sức sáng tạo của nhân dân. Nhân dân trong quan niệm của Chủ
tịch Hồ Chí Minh là toàn dân Việt Nam. Người giải thích, toàn dân kháng chiến
là ai cũng phải đánh giặc, bất cứ đàn ông, đàn bà, người già, người trẻ, ai
cũng tham gia kháng chiến. Tổ quốc là Tổ quốc chung, Tổ quốc độc lập thì ai
cũng được tự do, nếu mất nước thì ai cũng phải làm nô lệ. Người đã tìm thấy
điểm tương đồng, chất keo kết dính các tầng lớp, giai cấp, dân tộc chính là lợi
ích tối cao của dân tộc. Đây là nguyên tắc sống còn được Người khái quát ngắn
gọn nhưng vô cùng sâu sắc: dân tộc trên hết, Tổ quốc trên hết.
Chủ tịch
Hồ Chí Minh kêu gọi: “Hỡi đồng bào! Chúng ta phải đứng lên! Bất kỳ đàn ông, đàn
bà, bất kỳ người già người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là
người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp cứu Tổ quốc…”. Điều đó thể
hiện ý chí toàn thể dân tộc Việt Nam quyết “đem tất cả tinh thần và lực lượng,
tính mạng và của cải” để bảo vệ nền tự do, độc lập mà Người đã tuyên bố trong
Tuyên ngôn Độc lập trước toàn thế giới. Quyết tâm đó dựa trên cơ sở lòng tin
vào sức mạnh của nhân dân, vào thắng lợi cuối cùng của cả một dân tộc đồng
lòng. Người nhấn mạnh: “Bọn thực dân phải biết rằng dân Việt Nam không muốn đổ
máu, dân Việt Nam yêu chuộng hòa bình. Nhưng nếu cần phải kháng chiến bao nhiêu
năm để giữ gìn quyền độc lập của Việt Nam, để cho con cháu Việt Nam khỏi kiếp
nô lệ, thì chúng ta vẫn kiên quyết hy sinh và kháng chiến. Vì dân Việt Nam tin
chắc rằng thế nào cuộc kháng chiến này cũng thành công”. Quyết tâm đó của Chủ
tịch Hồ Chí Minh dựa trên cơ sở khoa học, dựa trên sức mạnh vô địch của đoàn
kết toàn dân, truyền thống yêu nước, chống giặc ngoại xâm quật cường của cha
ông ta và chủ yếu nhất, quyết tâm đó dựa trên quyết tâm chiến đấu hy sinh vì
độc lập, tự do của cả dân tộc bởi “sự đồng tâm của đồng bào ta đúc thành một
bức tường đồng xung quanh Tổ quốc, dù địch hung tàn, xảo quyệt đến mức nào,
đụng đầu nhằm bức tường đó, chúng cũng phải thất bại”.
Theo Chủ
tịch Hồ Chí Minh, phát huy sức mạnh của dân tộc, thực hiện toàn dân kháng chiến
nhưng phải lấy lực lượng vũ trang làm nòng cốt. Cùng với kêu gọi toàn dân kháng
chiến, Người kêu gọi anh em binh sĩ, tự vệ dân quân phải hy sinh đến giọt máu
cuối cùng để giữ gìn non sông đất nước. Do đó, khi tập trung lực lượng để lập
một đội quân đầu tiên, cần phải duy trì lực lượng vũ trang các địa phương cùng
phối hợp hành động và giúp đỡ về mọi phương diện. Đội quân chủ lực trái lại có
nhiệm vụ dìu dắt các đội vũ trang của các địa phương, giúp đỡ huấn luyện, giúp
đỡ vũ khí nếu có thể được, làm cho các đội này trưởng thành mãi lên. Tư tưởng
này đã được Đảng ta vận dụng, phát triển sáng tạo trong cuộc kháng chiến chống
Pháp và chống Mỹ cứu nước. Đảng đã tập trung xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ
quân gồm bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ. Đây chính là
phương thức tổ chức lực lượng thích hợp nhất để động viên và tổ chức toàn dân
đánh giặc, kết hợp lực lượng nòng cốt với lực lượng rộng khắp của toàn dân, lực
lượng cơ động và lực lượng tại chỗ trên cả nước và từng khu vực để tạo nên sức
mạnh lớn nhất tiêu diệt quân thù.
Chủ tịch
Hồ Chí Minh nhấn mạnh toàn dân kháng chiến lấy lực lượng vũ trang làm nòng cốt,
song Người cũng yêu cầu: “Điểm trọng yếu là bất kỳ bộ đội chủ lực, bộ đội địa
phương, dân quân du kích đều phải bám sát lấy dân, rời dân ra nhất định thất
bại. Bám lấy dân là làm sao cho được lòng dân, dân tin, dân mến, dân yêu. Như
vậy thì bất kể việc gì khó cũng làm được cả và nhất định thắng lợi. Muốn thế
phải bảo vệ, giúp đỡ, giáo dục nhân dân… phải vận động nhân dân tự nguyện, tự
giác, nếu bắt buộc thì chỉ có thể có kết quả tạm thời ngay lúc đó thôi, còn sau
đó thì không thấm…”. Theo Người, kháng chiến toàn dân phải đánh địch bằng mọi
lực lượng, mọi thứ vũ khí. Tức là mỗi ngành, mỗi giới, mỗi lĩnh vực công tác,
chiến đấu sản xuất, công tác đều nỗ lực tạo ra hiệu quả to lớn để phục vụ cuộc
kháng chiến. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã diễn đạt một cách dễ hiểu về tính toàn
diện của cuộc kháng chiến: Nó lấy vũ lực ta không sợ, nó lấy chính trị ta không
mắc mưu, nó lấy kinh tế phong tỏa thì ta lấy kinh tế đánh nó. Ở tiền tuyến,
chiến sĩ hy sinh xương máu để bảo vệ non sông. Ở hậu phương, toàn dân gia sức
tăng gia sản xuất… thế là đồng bào hậu phương cùng ra sức tham gia kháng chiến.
Người kêu gọi: “Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì
dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước”.
Hiện nay,
trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ và xu thế hội nhập quốc tế;
những diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nhiều yếu tố gây mất ổn định, bất trắc, khó
lường của tình hình thế giới; sự xuất hiện loại hình chiến tranh mới, chiến
tranh sử dụng vũ khí công nghệ cao, đất nước đang đối mặt nhiều vấn đề mới, có
cả những thuận lợi, thời cơ đan xen những khó khăn, thách thức gay gắt. Trong
điều kiện đó, “tính linh hoạt” của nền quốc phòng toàn dân trong giai đoạn hiện
nay phải trở nên rất cao, nhiệm vụ quốc phòng được mở rộng. Nền quốc phòng toàn
dân vừa phải có khả năng ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, hành động phá hoại
của các thế lực thù địch, vừa phải giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tạo
điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời phải có đủ sức
mạnh ngăn chặn, đẩy lùi mọi nguy cơ chiến tranh, đáp ứng mọi yêu cầu của sự
nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Trải qua 73
năm nhưng khí thế hào hùng của những ngày đầu toàn quốc kháng chiến đã đi vào
lịch sử, trở thành dấu son chói lọi trong cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ
quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Trước những thăng trầm của thời gian,
giá trị lịch sử của “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” luôn là kim chỉ nam cho
mọi hành động cách mạng của Đảng và toàn thể nhân dân Việt Nam, cổ vũ cán bộ,
chiến sĩ, đồng bào kề vai sát cánh, chung sức, đồng lòng. Quán triệt quan điểm,
tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về kháng chiến toàn dân trong giai đoạn hiện
nay, Đảng ta tiếp tục phát huy sức mạnh toàn dân tộc và dân chủ xã hội chủ
nghĩa, đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, bảo vệ vững chắc Tổ quốc.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét