PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG ANH HÙNG CỦA
QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ MỚI
Mặt Trời
Quân
đội nhân dân Việt Nam là quân đội kiểu mới, quân đội của nhân dân, do nhân dân,
vì nhân dân, là lực lượng nòng cốt của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam,
được Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức, giáo dục và rèn
luyện đã không ngừng trưởng thành, lớn mạnh, đánh thắng mọi kẻ thù. Trải qua 75
năm xây dựng, phát triển, chiến đấu và chiến thắng, đã góp phần đắc lực vào
công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Trong Chính cương vắn tắt tháng
2/1930, Luận cương chính trị tháng 10/1930, ngay từ khi mới ra đời, Đảng ta đã
khẳng định con đường giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc phải tổ chức ra
quân đội công nông để giành chính quyền và giữ chính quyền. Vì vậy, các tổ chức
vũ trang lần lượt được hình thành là Đội tự vệ đỏ trong phong trào Xô Viết -
Nghệ Tĩnh; hàng loạt tổ chức vũ trang được thành lập trong những năm 1940 -
1945, như đội du kích Bắc Sơn (Lạng Sơn), đội du kích Pắc Bó (Cao Bằng), đội du
kích Ba Tơ (Trung kỳ), du kích Nam Kỳ, Cứu quốc quân. Do sự phát triển mạnh mẽ,
rộng khắp và trưởng thành của phong trào đấu tranh cách mạng Việt Nam vào thời
điểm đó đòi hỏi phải có đội quân chủ lực thống nhất về mặt tổ chức để đáp ứng
nhiệm vụ giải phóng dân tộc.
Ngày 22/12/1944, tại khu rừng
giữa tổng Hoàng Hoa Thám và Trần Hưng Đạo thuộc châu Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng
(nay là xóm Nà Sang, xã Tam Kim, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng), Đội Việt
Nam tuyên truyền giải phóng quân được thành lập gồm 34 chiến sĩ do đồng chí Võ
Nguyên Giáp phụ trách. Tháng 4/1945, Trung ương Đảng quyết định thống nhất các
lực lượng vũ trang cả nước là Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, Cứu quốc
quân và các tổ chức vũ trang khác thành Việt Nam giải phóng quân do đồng chí Võ
Nguyên Giáp làm Tư lệnh. Lực lượng vũ trang cùng các tầng lớp nhân dân khởi
nghĩa giành chính quyền trong nửa cuối tháng Tám 1945 đã giành thắng lợi. Cách
mạng tháng Tám 1945 thành công, Việt Nam Giải phóng quân đổi tên thành Vệ Quốc
quân. Năm 1946, Vệ Quốc quân đổi tên thành Quân đội Quốc gia Việt Nam và từ năm
1950 đổi tên thành Quân đội nhân dân Việt Nam. Ngày 22/12/1944, ngày thành lập
Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân - Đội quân chủ lực đầu tiên của Quân
đội nhân dân Việt Nam được lấy làm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam.
Trải qua 75 năm ra đời, chiến
đấu và trưởng thành, Quân đội nhân dân Việt Nam luôn tỏ rõ khí phách anh hùng
như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân,
nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh
thắng”. Đó là những chiến công trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược
(1945 - 1954). Sau khi cách mạng tháng Tám thành công, đất nước ta đứng trước
tình thế ngàn cân treo sợi tóc, phải cùng một lúc đối phó với cả giặc đói, giặc
dốt, giặc ngoại xâm. Với tinh thần vừa xây dựng vừa sẵn sàng chiến đấu. Vệ Quốc
quân và lực lượng tự vệ thực hiện tốt nhiệm vụ chống giặc ngoài thù trong, góp
phần bảo vệ vững chắc chính quyền nhân dân trong những năm đầu của chính quyền
cách mạng. Ngày 19/12/1946, với tinh thần quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh; cuộc
chiến đấu ở Thủ đô Hà Nội và các thành phố, thị xã đã tiêu hao, tiêu diệt và
giam chân một lực lượng lớn quân địch, tạo điều kiện cho cả nước chuyển vào
kháng chiến lâu dài. Quân đội ta đã giành thắng lợi trong chiến dịch Việt Bắc,
phá sản chiến lược đánh nhanh, thắng nhanh của thực dân Pháp, bảo toàn và phát
triển bộ đội chủ lực, bảo vệ cơ quan đầu não và căn cứ của cả nước, đưa cuộc
kháng chiến chống Pháp phát triển sang thời kỳ mới. Tiếp đó Quân đội ta cùng
toàn dân đánh bại âm mưu bình định và phản công của địch (1948 - 1952); giành thắng
lợi trong cuộc tiến công chiến lược Đông - Xuân 1953 - 1954, đỉnh cao là chiến
dịch Điện Biên Phủ. Sau 56 ngày đêm chiến đấu dũng cảm, mưu trí, sáng tạo, quân
và dân ta đã đập tan toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, giáng đòn quyết
định, tạo bước ngoặt lịch sử làm thay đổi hẳn cục diện chiến tranh; trực tiếp
đưa đến việc ký kết Hiệp định Giơnevơ về đình chỉ chiến sự ở Việt Nam, lập lại
hoà bình ở Đông Dương, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến 9 năm chống thực dân
Pháp và can thiệp Mỹ; bảo vệ và phát triển thành quả cách mạng Tháng Tám. Miền
Bắc được giải phóng, tạo cơ sở và điều kiện vững chắc để quân và dân ta tiến
lên giành thắng lợi vĩ đại trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Từ 1954 - 1975, chúng ta phải
tiến hành cuộc kháng chiến thần thánh với tên đầu sỏ của chủ nghĩa đế quốc là
đế quốc Mỹ giàu có nhất thế giới, có lực lượng quân sự vào loại nhất, nhì của
thế giới. Ngạn ngữ có câu: Lửa thử vàng, gian nan thử sức. Chính trong sự không
tương xứng về lực lượng đó, phẩm chất anh hùng cách mạng của quân và dân ta
dưới sự lãnh đạo của Đảng đã được thể hiện kiên cường nhất. Lần lượt đánh thắng
chiến tranh đặc biệt (1961 - 1965); chiến tranh cục bộ và chiến tranh phá hoại
miền Bắc lần thứ nhất của đế quốc Mỹ (1965 - 1968); chiến lược Việt Nam hoá
chiến tranh và cuộc tập kích bằng không quân, hải quân lần thứ 2 vào miền Bắc
của đế quốc Mỹ (1969 - 1972) và cùng toàn dân tiến hành cuộc tổng tiến công và
nổi dậy mùa xuân năm 1975 với đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, kết
thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1973 - 1975), Quân đội nhân
dân Việt Nam đã viết lên trang sử hào hùng, oanh liệt của thời đại Hồ Chí Minh.
Hơn một triệu quân đội Sài Gòn và cả bộ máy chính quyền địch bị đập tan, chế độ
thực dân mới được Mỹ dốc sức xây dựng trong hơn 20 năm với 5 đời Tổng thống đã
hoàn toàn sụp đổ. Chiến dịch Hồ Chí Minh đã toàn thắng, miền Nam hoàn toàn giải
phóng, non sông được thu về một mối. Chiến dịch Hồ Chí Minh là chiến dịch hiệp
đồng quân, binh chủng quy mô lớn nhất, giành thắng lợi to lớn nhất, đánh dấu
bước trưởng thành vượt bậc của Quân đội nhân dân Việt Nam cả về tổ chức lực
lượng và trình độ chỉ huy tác chiến hiệp đồng quân, binh chủng; là đỉnh cao của
nghệ thuật quân sự Việt Nam, góp phần quyết định kết thúc cuộc kháng chiến
chống Mỹ, cứu nước. Sau này, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Macnamara đã từng thừa
nhận: Chúng ta thua Việt Nam không phải vì vũ khí mà vì văn hoá, trí tuệ của
con người Việt Nam.
Trong giai đoạn cách mạng mới
của đất nước, nhiệm vụ của quân đội được Đảng nêu rõ: Ra sức bảo vệ sự nghiệp
cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta, bảo vệ
độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển, biên giới và hải
đảo của nước Việt Nam thống nhất, tích cực tham gia sản xuất, góp phần xây dựng
cơ sở vật chất, kỹ thuật chủ nghĩa xã hội. Thực hiện sự lãnh đạo của Đảng, nêu
cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng, cán bộ, chiến sỹ trong quân đội đã khắc phục
khó khăn, gian khổ, tham gia xây dựng và khôi phục đất nước từ đống tro tàn đổ
nát của chiến tranh. Quân đội ta đã cùng toàn dân đánh thắng hai cuộc chiến
tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc, làm tròn nhiệm
vụ quốc tế cao cả ở Campuchia. Trong bối cảnh Đảng lãnh đạo nhân dân tiến hành
sự nghiệp mổi mới từ năm 1986 đến nay, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước, Quân đội nhân dân Việt Nam đã có những đóng góp xứng đáng vào
những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử, nhất là vào thời điểm cuộc cách
mạng công nghiệp 4.0 đang tác động mạnh mẽ đến các quốc gia trên thế giới.
Kỷ niệm 75 năm ngày thành lập Quân
đội nhân dân Việt Nam trong bối cảnh thế giới và khu vực có những diễn biến
phức tạp, mau lẹ và khó lường. Đây cũng là thời điểm toàn Đảng, toàn dân, toàn
quân đang ra sức thi đua lập thành tích thực hiện thắng lợi mục tiêu nghị quyết
Đại hội lần thứ XII, tiến tới Đại hội XIII của Đảng. Dưới sự lãnh đạo Đảng
chúng ta tin tưởng Quân đội nhân dân Việt Nam phát huy truyền thống anh hùng
qua 75 năm, sẽ có nhiều đóng góp xứng đáng, đắc lực hơn nữa vào công cuộc xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa để góp phần thực hiện mục tiêu
dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững chắc tiến lên chủ nghĩa
xã hội./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét