Thứ Ba, 17 tháng 12, 2019


GIÁ TRỊ NHÂN VĂN TRONG TƯ TƯỞNG

"CHÍNH TRỊ TRỌNG HƠN QUÂN SỰ

CỦA HỒ CHÍ MINH

HOA SÚNG

Trong di sản lý luận quân sự Hồ Chí Minh, giá trị nhân văn phản ánh trong nhiều bài nói, bài viết. Một số tác phẩm chính trị - quân sự thể hiện đậm nét giá trị nhân văn của Người như: Nên học Sử ta (1942); Phép dùng binh của ông Tôn Tử (1945); Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (1946); Thư gửi Tổng thống Pháp Vanh-xăng Ô-ri-ôn (1947); Bài nói chuyện tại trường Chính trị trung cấp quân đội (1951); Bài nói chuyện tại lớp chỉnh huấn các cơ quan Khu I (1953); Thư gửi Tổng thống Mỹ (1956); Bài nói chuyện trong buổi chiêu đãi mừng Quân đội ta 20 tuổi (1964). Tích hợp nội dung ở bài nói, bài viết và từ quá trình thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo của Người đối với hoạt động quân sự ở Việt Nam cho thấy luận điểm "chính trị trọng hơn quân sự" phản ánh giá trị nhân văn quân sự nổi bật:
Quân sự lấy chính trị làm gốc, phục tùng chính trị. Trong lịch sử tư tưởng quân sự, quan hệ giữa chính trị và chiến tranh đã được các nhà quân sự sớm đề cập. Tôn Tử - một nhà quân sự có tiếng ở Trung Quốc (thời Cổ đại) coi chính trị là yếu tố có vai trò rất lớn đến thắng lợi của chiến tranh. Trong tác phẩm "Phép dùng binh của ông Tôn Tử", Hồ Chí Minh từ cách phân tích, đã khái quát thành những vấn đề cơ bản trong tư tưởng quân sự của Tôn Tử, tìm thấy hạt nhân tiến bộ trong tư tưởng đó. Người từng khen: "Nguyên tắc của Tôn Tử chẳng những dùng về quân sự đúng, mà dùng về chính trị cũng rất hay", rằng: "Ai được lòng dân… thì bên ấy thắng". Từ đó Người khuyên những người cách mạng An Nam nên nghiên cứu, vận dụng cho phù hợp. Trong thế kỷ XX, Việt Nam đã từng bị các nước đế quốc đưa quân đội sang xâm lược. Chúng xây dựng, sử dụng nhiều "chiêu bài" chính trị để thực hiện mục đích xâm lược: Tuyên truyền trong dân chúng Việt Nam về cái gọi là "nền văn minh Pháp, Mỹ"; thực hiện chính sách "chia để trị"; thực thi chính sách "mỵ dân", "ngu dân"; ra sức bóc lột, đầu độc nhân dân ta bằng rượu và thuốc phiện. Chính sách và hành động man rợ của chúng đã hủy hoại, cướp đi quyền cơ bản của dân tộc, con người Việt Nam. Xét về bản chất, chính trị của chúng đối lập với luận điệu của chúng, là chính trị vô nhân đạo, phản lại lương tri, phẩm giá con người.
Chính trị trong tư tưởng Hồ Chí Minh khác hẳn bản chất so với chính trị phong kiến, thực dân đế quốc. Chính trị của Người là vì con người - vì sự nghiệp đấu tranh bảo vệ, phát triển cuộc sống hòa bình, tự do, ấm no, hạnh phúc của con người. Trong quan hệ với quân sự, chính trị được Hồ Chí Minh coi là "nền gốc" của quân sự, quyết định quân sự. Người từng khẳng định: "Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại".
Trong thời kỳ chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền, Hồ Chí Minh khẳng định chính trị là vận mệnh của quân đội cách mạng, quân sự mà không có chính trị là quân sự mù. Đối với quân nhân, chính trị là "linh hồn, mạch sống", bảo đảm cho quân nhân đi đúng con đường chính trị, tiếp sức cho họ vượt lên khó khăn, thử thách, hoàn thành nhiệm vụ vẻ vang của cách mạng: "Nếu anh em tư tưởng vững, chính trị vững… thì nhất định thắng".
Trong những đợt "chỉnh huấn, chỉnh quân", Hồ Chí Minh yêu cầu quân nhân dù bất kể ở cương vị nào, làm việc gì đều phải lấy "chính trị làm gốc", phục tùng chính trị. Phải thường xuyên học tập nâng cao trình độ chính trị, bồi dưỡng đạo đức cách mạng, hết lòng "phụng sự nhân dân". Chính trị "trọng hơn" quân sự trong tư tưởng của Người là sự tiếp nối truyền thống nhân văn cao đẹp của dân tộc Việt Nam "yêu nước, thương dân, yêu chuộng hòa bình". Tư tưởng đó không đồng nghĩa với tuyệt đối hóa vai trò chính trị, xem nhẹ vai trò quân sự.
Theo Hồ Chí Minh quân sự càng thắng lợi, càng tạo ra điều kiện căn bản cho một giải pháp chính trị đúng đắn "kết thúc chiến tranh, lập lại hòa bình". Sự khẳng định chính trị "trọng hơn" quân sự của Hồ Chí Minh còn hàm ý làm cho quá trình xây dựng quân đội luôn phát triển đúng "đường lối quần chúng" của Đảng.
Hai là, coi trọng xây dựng quân đội về chính trị. Quân đội ta ra đời trong điều kiện cách mạnh chưa có chính quyền, nước nhà chưa giành độc lập. Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, quân đội ta có bước phát triển nhanh: Từ một đội quân 34 chiến sĩ, phát triển thành các Trung đoàn, Đại đoàn; hệ thống tổ chức được xác lập, kiện toàn, hoạt động. Trong quá trình ấy, mọi hoạt động của quân đội luôn bị kẻ thù dùng chính trị, quân sự để phá hoại, tìm diệt. Trong hoàn cảnh, điều kiện khó khăn như vậy, việc xây dựng quân đội về chính trị, bảo đảm cho quân đội luôn vững vàng, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, hiểm nguy được Người coi là vấn đề hệ trọng.
Xây dựng quân đội về chính trị trong tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh gồm các nội dung: Tuyên truyền giáo dục, làm cho lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vị trí chủ đạo trong đời sống tinh thần quân đội; thường xuyên duy trì và thực hiện nghiêm chỉnh nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân; giữ vững vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội trong mọi điều kiện, hoàn cảnh; giải quyết đúng đắn các quan hệ trong hoạt động quân sự, đấu tranh vũ trang; đấu tranh ngăn chặn, loại trừ những biểu hiện tiêu cực, phản động ra khỏi đời sống quân đội. Mục đích cuối cùng xây dựng quân đội về chính trị là làm cho quân đội thực sự đoàn kết, thống nhất, mọi quân nhân có phẩm chất chính trị vững vàng, đạo đức cách mạng trong sáng, sẵn sàng chiến đấu hy sinh, "vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội".
Trải qua 24 năm trên cương vị là người đứng đầu cơ quan Đảng, Nhà nước (1945-1969), tư tưởng "chính trị trọng hơn quân sự" được chính Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta hiện thực hóa trong thực tiễn xây dựng quân đội, với hệ thống giải pháp nhân văn: Xác lập, duy trì cơ chế Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt quân đội; thành lập hệ thống tổ chức Đảng, cơ quan chính trị trong quân đội; ban hành chức danh cán bộ chính trị, quân sự, thực hiện chế độ 2 thủ trưởng (quân sự, chính trị); triển khai hiệu quả các mặt công tác: tuyên truyền, giáo dục chính trị tư tưởng, dân vận, binh vận, xây dụng bồi dưỡng đạo đức cách mạng cho quân nhân; tìm kiếm phương thức hòa bình để ngăn chặn, giảm thiểu tổn thất, hy sinh trong chiến tranh; giải quyết chính sách "con người" trong chiến tranh theo đúng đường lối nhân văn của Đảng, luật pháp quốc tế.
Chính từ quá trình lãnh đạo, chỉ đạo đấu tranh cách mạng của Hồ Chí Minh đã làm cho chủ nghĩa yêu nước, nhân văn của dân tộc và lý tưởng xã hội chủ nghĩa quyện chặt, hóa thành triết lý sống thấm vào từng con người, tổ chức quân sự, kết thành sức mạnh đại đoàn kết - nhân tố làm nên thắng lợi trong cuộc đấu tranh vì "độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội".
Trong giai đoạn lãnh đạo đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội, Đảng càng nhận thức đầy đủ, đúng đắn giá trị nhân văn trong tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh. Từ đó đề ra nhiều chủ trương, giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng quân đội trong tình hình mới. Đóng góp lớn lao của Đảng, hệ thống chính trị, toàn dân đã và đang làm cho quân đội ta ngày càng phát triển vững mạnh, xứng đáng là lực lượng vũ trang cách mạng trung thành "của dân, vì dân".

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét