CẢNH GIÁC VỚI THỦ ĐOẠN XUYÊN TẠC
“HỒ CHÍ MINH LÀ NGƯỜI ĐAM MÊ, SAY SƯA BẠO LỰC".
HOA SÚNG
Đối với Hồ Chí Minh, việc phải tiến hành vũ
trang là để tự vệ, bảo vệ chính dân tộc, nhân dân mình trước sự tấn công của
các đội quân xâm lược mà lại là các đội quân có quân số đông, được trang bị vũ
khí đầy đủ, hiện đại hơn, được huấn luyện chu đáo, chuyên nghiệp. Cuộc chiến
tranh mà chúng ta buộc phải tiến hành là “chiến tranh chính nghĩa”, “chiến
tranh tự vệ”; chiến tranh là giải pháp cuối cùng, còn một phút có thể tranh thủ,
hy vọng đẩy lùi chiến tranh vẫn cứ tận dụng. Đây là điều mà Hồ Chí Minh đã nhiều
lần khẳng định trước toàn thế giới và được nhân loại có lương tri ủng hộ, giúp
đỡ rất to lớn, có hiệu quả. Như vậy, việc dụng binh là việc nhân nghĩa, trừ ác
diệt tà để cứu nước, cứu dân theo tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh, hoàn toàn trái
ngược với tư tưởng sùng bái, đam mê bạo lực.
Như chúng ta đã biết, sau Cách mạng Tháng Tám
chưa đầy một tháng, với âm mưu cướp nước ta một lần nữa, ngày 23-9-1945, thực
dân Pháp tiếp tục nổ súng, gây hấn ở Nam Bộ, buộc nhân dân ta phải bước vào cuộc
chiến tranh tự vệ mới. Trong bài nói chuyện tại Trường Cán bộ tự vệ Hồ Chí Minh
(7-1-1946), Người giải thích: “Nếu không bị uy hiếp, chúng ta không cần có tự vệ.
Tự vệ là vệ lấy mình, lấy gia đình mình, rồi đến thành phố mình, nước mình. Ta phải
ngăn ngừa mọi sự uy hiếp”. Như vậy, vũ trang tự vệ theo tư tưởng của Người hoàn
toàn đối lập với vũ trang xâm lược của các lực lượng hiếu chiến với mưu đồ nô dịch,
thống trị dân tộc khác. Vũ trang tự vệ là hoạt động quân sự chính nghĩa của một
dân tộc yêu chuộng hòa bình, không bao giờ muốn chiến tranh. Do vậy, nó được sử
dụng để giành và bảo vệ chính quyền cách mạng, bảo vệ tính mạng, tài sản của
nhân dân trước sự xâm lược của ngoại bang, nên nó thể hiện rõ tính chất nhân
văn, nhân đạo. Bởi vậy, khi thực dân Pháp lộ rõ mưu đồ cướp nước ta một lần nữa,
Hồ Chí Minh đã vạch rõ: “Là nạn nhân của một cuộc xâm lược có chủ định từ trước,
chúng tôi buộc phải tự vệ chống lại một đối phương đang thực hiện phương pháp của
một cuộc chiến tranh tổng lực, như những cuộc bắn phá dã man làng mạc và dân
thường” (1).
Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân
dân Việt Nam là cuộc chiến tranh tự vệ bắt buộc để bảo vệ chính quyền non trẻ,
bảo vệ quyền tự quyết dân tộc, bảo vệ danh dự và nhân phẩm của một dân tộc. Tuy
nhiên, cuộc chiến tranh đó chỉ để đánh bại ý chí xâm lược của một số kẻ hiếu
chiến. Theo Hồ Chí Minh, “Nhân dân Việt Nam đã bị chính sách vũ lực, chính sách
xâm lăng của một vài người đại diện Pháp ở Đông Dương xô đẩy vào một cuộc chiến
tranh tự vệ thảm khốc” (2) và “Chính sách vũ lực mà các nhà đại diện Pháp ở
Đông Dương vẫn áp dụng từ trước tới nay, đã buộc dân tộc Việt Nam phải võ trang
tự vệ” (3). Người viết: “… Chúng tôi không muốn chiến tranh, nhưng chúng tôi
quyết tự vệ đến giọt máu cuối cùng. Chúng tôi quyết không chịu mất nước làm nô
lệ thực dân lần nữa. Mong Chính phủ, Nghị viện và nhân dân Pháp hiểu cho. Mong
các nước dân chủ trên thế giới hiểu cho” (4). Với tinh thần tự vệ và ý chí tự lực,
tự cường cao cả, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân ta
đã làm nên chiến thắng ngày 7-5-1954 lừng lẫy Điện Biên, chấn động địa cầu.
Cuộc chiến tranh tự vệ chống đế quốc Mỹ mà
nhân dân Việt Nam tiến hành, chẳng những có giá trị nhân văn, nhân đạo đối với
dân tộc Việt Nam, mà còn đối với khu vực và thế giới. Người chỉ rõ: “Nhân dân
Việt Nam chúng tôi phải kiên quyết đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược để tự vệ,
để bảo vệ những quyền dân tộc thiêng liêng nhất của mình, đồng thời góp phần giữ
gìn hòa bình ở châu Á và thế giới” (5). Với tinh thần “Không có gì quý hơn độc
lập, tự do”, cuộc chiến tranh tự vệ của nhân dân ta đã giành thắng lợi hoàn
toàn, đúng như dự báo của Hồ Chí Minh là: “Đế quốc Mỹ đang tiến hành một cuộc
chiến tranh xâm lược tàn bạo nhất trong lịch sử chống nhân dân Việt Nam. Sử dụng
quyền tự vệ thiêng liêng của mình, toàn thể nhân dân Việt Nam đã kiên quyết chống
lại để bảo vệ độc lập, tự do và đã liên tiếp giành được những thắng lợi to lớn
và nhất định sẽ giành được thắng lợi cuối cùng”.
Trong khi đó một số phần tử phản động, cơ hội
chính trị đã xuyên tạc rằng Hồ Chí minh có tư tưởng cực đoan, hiếu chiến đã
lãnh đạo dân tộc ta chiến tranh với thực dân Pháp và đế quốc Mỹ để lại đau
thương, mất mát cho đồng bào.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét