Tại Nghị quyết số 04-NQ/TW về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn
chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu
hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ, Đảng ta
cũng chỉ rõ “bảo thủ” là một trong những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính
trị. Hiện nay, các cấp, các ngành, các đơn vị, địa phương đã và đang tổng
kết thực hiện nhiệm vụ năm 2019. Khi phân tích về nguyên nhân của những tồn
tại, hạn chế, nhiều đơn vị, địa phương cũng chỉ rõ đó là tình trạng chậm đổi
mới cả trong tư duy và hành động, hay nói cách khác là căn bệnh bảo thủ còn khá
nặng... Trước yêu cầu mới của sự nghiệp cách mạng, việc nhận diện những
biểu hiện cụ thể, nguyên nhân và hậu quả của tư tưởng bảo thủ, trên
cơ sở đó xác định và tiến hành các chủ trương, biện
pháp đấu tranh hiệu quả, góp phần đưa đất nước phát triển là việc rất quan
trọng.
Bảo thủ - "sợi dây cột chân cột tay người ta"
Theo Đại từ điển tiếng Việt, bảo thủ được hiểu là "duy trì cái cũ,
cái hiện tồn, không muốn tiếp nhận cái mới". Còn theo cách hiểu thông
thường, bảo thủ là duy trì cái cũ, bảo vệ cái cũ, cái đã lỗi thời, lạc hậu;
không chịu tiếp thu cái mới, cái hay, cái tiến bộ, chống lại những tư duy mới,
hành động mới trong mọi lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế-xã
hội... Trên thực tế những biểu hiện của tư tưởng bảo thủ được thể hiện,
bộc lộ dưới rất nhiều dạng, nhiều khía cạnh. Có những biểu hiện chỉ thoáng qua
người ta đã biết, nhưng có những biểu hiện không phải ai cũng dễ nhận ra, do đó
việc nhận diện đúng tư tưởng bảo thủ để đấu tranh khắc phục là việc làm cần
thiết.
Danh ngôn có câu: “Một trí óc bảo thủ là một trí óc đang chết dần”. Tác
hại mà tư tưởng bảo thủ gây ra với mỗi tập thể, mỗi xã hội là rất rõ ràng. Tác
hại của tư tưởng bảo thủ sẽ càng lớn khi nó được áp đặt vào người khác, áp đặt
vào tập thể. Do đó sẽ rất nguy hại nếu người mang tư tưởng bảo thủ giữ chức vụ
cao, nhất là những người giữ vai trò chủ trì, chủ chốt ở từng cơ quan, đơn vị,
địa phương. Chuyện kể rằng có một công ty nọ chuyên sản xuất hàng may mặc
xuất khẩu, công ty phát triển khá nhanh do thường xuyên đầu tư hiện đại máy
móc, trang thiết bị kỹ thuật, đổi mới mẫu sản phẩm, ký được nhiều hợp đồng với
nhiều nước trên thế giới... Sau những thành công ấy, giám đốc công ty hả hê và
càng ngày càng cảm thấy thoã mãn với sự nghiệp của mình. Ông ta cho rằng mẫu mã
trước đây đã khẳng định được vị trí, tìm được chỗ đứng trong khách hàng nên
không cần phải thay đổi nữa, chỉ cần duy trì mẫu mã cũ cũng đủ sức phát
triển... Thực chất đó chính là biểu hiện của tư tưởng bảo thủ và hệ quả đã thấy
rõ, công ty của ông ta dần dần bị tụt hậu, không theo kịp sự phát triển của
thời đại, hàng hóa của công ty trở thành lỗi thời, lạc hậu, không ký được hợp
đồng, khách hàng cũng mất dần; các đối thủ cạnh tranh vượt lên. Chẳng bao lâu
công ty may mặc của ông giám đốc nọ đã bị phá sản...
Từ câu chuyện trên, suy rộng ra cho chúng ta thấy tính chất nguy hại của
tư tưởng bảo thủ đối với sự phát triển của xã hội. Nhận thức rõ những ảnh hưởng
tiêu cực của tư tưởng bảo thủ, trong suốt quá trình lãnh đạo đất nước, Đảng ta
và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đặc biệt đến việc đấu tranh ngăn chặn tư
tưởng bảo thủ. Trong Thư gửi đồng bào và cán bộ xã Nam Liên (nay là xã Kim
Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An), ngày 13-2-1962, khi đề cập đến công cuộc
xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã viết: “Tư tưởng bảo thủ là như những sợi dây cột chân cột tay
người ta, phải vất nó đi. Muốn tiến bộ thì phải có tinh thần mạnh dạn, dám nghĩ
dám làm”. Trong nhiều bài viết, bài nói, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phân tích rõ
tác hại của tư tưởng bảo thủ. Người ví nó như sợ dây trói buộc, ngăn cản sự
tiến bộ của con người, ngăn cản sự phát triển của tập thể.
Đổi mới là đòi hỏi tất yếu
Trên thực tế vẫn có rất nhiều người đang cố thủ trong các vỏ bao bọc của
lề thói cũ, tư duy và chủ nghĩa kinh nghiệm. Vấn đề này cũng đã được Đảng ta
chỉ rõ trong nhiều văn kiện. Ngoài những yếu tố khách quan như tàn dư của
chế độ phong kiến, thực dân; ảnh hưởng của cơ chế quan liêu bao cấp một thời;
là sự khắc nghiệt của điều kiện tự nhiên... chúng ta cần phải thấy một trong
những nguyên nhân chủ quan dẫn đến căn bệnh bảo thủ là do nhận thức của một bộ
phận cán bộ, đảng viên và nhân dân còn hạn chế. Do chưa nhận
thức rõ vấn đề và những đòi hỏi từ thực tế nên chúng ta đã chậm đổi mới trong
cả tư duy và hành động; giáo dục và đào tạo không bắt kịp với xu thế
phát triển của thời đại... Từ thực trạng tình hình, Đảng ta đã nhận rõ đổi
mới tư duy là quy luật tất yếu của cách mạng, của công cuộc đổi mới. Trong Văn
kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Đảng ta khẳng định rằng: "Chỉ
có đổi mới tư duy thì mới thấy đúng và thấy hết sự thật, thấy hết những nhân tố
mới để phát huy, những sai lầm để sửa chữa"... Chính sự quyết tâm đấu
tranh với tư tưởng bảo thủ, đổi mới mạnh mẽ, toàn diện đất nước mà chúng ta có
được những bước tiến dài như ngày hôm nay. Có thể khẳng định, hơn ba mươi năm
đổi mới là một giai đoạn lịch sử quan trọng trong sự nghiệp phát triển của nước
ta, đánh dấu sự trưởng thành về mọi mặt của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta.
Trước những đòi hỏi mới của tình hình, nhất là ở thời Cách mạng công
nghiệp lần thứ tư, cái mới, cái tiến bộ không ngừng nảy sinh phủ định cái cũ,
cái lạc hậu và chính sự ra đời của cái mới, sự triệt tiêu của cái cũ giúp cuộc
sống của chúng ta không ngừng vận động, phát triển, thì cuộc đấu tranh ngăn
chặn và đẩy lùi tư tưởng bảo thủ, không ngừng đổi mới, sáng tạo càng trở nên
cấp thiết hơn bao giờ hết. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã chỉ rõ: “Phải
biết rằng tình hình khách quan thay đổi hàng giờ hàng phút, một chủ trương của
ta hôm nay đúng, hôm sau đã không hợp thời, nếu ta không tỉnh táo kiểm điểm
những tư tưởng hành vi của ta để bỏ đi những cái quá thời, sai hỏng, nhất định
ta sẽ không theo kịp tình hình, ta sẽ bị bỏ rơi, bị các bạn tỉnh táo nhanh nhẹn
hơn vượt đi trước... Không chịu tự phê bình, không chỉ trích thì không bao giờ
tấn tới được”(*). Tuy nhiên, đổi mới không có nghĩa là chúng ta phủ định sạch
trơn cái ra đời trước, kinh nghiệm của những người đi trước. Nhưng nếu chúng ta
cứ bình chân nằm ôm khư khư đống kinh nghiệm ấy mà không tìm tòi, đổi mới, sáng
tạo thì nhất định chúng ta sẽ tụt hậu, đặc biệt trong xã hội hiện đại, khoa
học, công nghệ phát triển như vũ bão, tri thức mới không ngừng ra đời như hiện
nay.
Kiên trì đấu tranh bằng nhiều giải pháp
Bảo thủ là một tư tưởng đã ăn sâu, bám rễ, trở thành thuộc tính cố hữu
trong cách nghĩ, cách làm và tư duy của cán bộ, đảng viên và người dân.
Mặt khác, phản ứng lại sự tấn công của cái mới, cái tiến bộ vốn là thuộc tính
của tư tưởng bảo thủ. Để bảo vệ mình, người mang tư tưởng bảo thủ luôn tìm ra
đủ phương cách. Do đó đấu tranh khắc phục tư tưởng bảo thủ không phải là
công việc đơn giản và dễ thực hiện trong một sớm một chiều. Muốn chữa trị
căn bệnh bảo thủ, chúng ta phải có quyết tâm cao, kiên trì tiến hành đồng
bộ, thường xuyên, liên tục, bằng nhiều giải pháp.
Thực tế cho thấy tình trạng mang nặng tư tưởng bảo thủ, trì trệ, không
mạnh dạn dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm ở một bộ phận cán
bộ, đảng viên đang là lực cản lớn đối với quá trình phát triển
của đất nước ta. Để khắc phục tình trạng ấy, chúng ta cần phải đặc biệt
coi trọng công tác tuyên truyền, giáo dục. Thực tế đã chứng minh tuyên truyền,
giáo dục là một trong những giải pháp hữu hiệu để ngăn chặn, đẩy lùi căn bệnh
bảo thủ. Để làm được điều đó, trước hết chúng ta phải tăng cường tuyên
truyền, giáo dục trong các cơ quan, đơn vị, trường học; nêu cao
tính tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên, đặc biệt là của cơ quan
cấp trên, cán bộ chủ trì các cơ quan, đơn vị, bởi những người này mang
nặng tư tưởng bảo thủ thì sẽ ảnh hưởng rất lớn đến tập thể. Cùng với đó, chúng
ta phải bảo vệ nhân tố mới, cổ vũ tư tưởng đổi mới, tinh thần dám nghĩ,
dám làm, dám chịu trách nhiệm; tính linh hoạt, sáng tạo cả trong tư duy và hành
động. Việc tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức để chống tư tưởng
bảo thủ phải được xác định là việc làm thường xuyên, liên tục, ở mọi cấp,
mọi lĩnh vực, mọi ngành nghề, mọi lứa tuổi, đối tượng... Đối với từng nhóm
đối tượng phải lựa chọn nội dung, hình thức và biện pháp tuyên truyền sao cho
phù hợp, hiệu quả, trong đó cần nêu cao vai trò của báo chí, truyền thông.
Mặt khác, như đã nêu ở trên, một trong những nguyên nhân dẫn đến
tư tưởng bảo thủ là do trình độ nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân
dân còn hạn chế. Thực tế cho thấy, với bất cứ một nền kinh tế-xã hội nào
muốn duy trì sự tồn tại và phát triển cần phải có một nguồn lực nhất định,
trong đó nguồn lực quan trọng và quyết định nhất là con người. Do
vậy, để đẩy lùi căn bệnh bảo thủ, chúng ta cần nâng cao trình độ dân trí. Muốn
nâng cao trình độ nhận thức, nâng cao dân trí thì không có cách nào khác là phải
đầu tư cho giáo dục và đào tạo, hay nói cách khác là đầu tư cho con người.
Trình độ nhận thức của cán bộ, đảng viên, trình độ dân trí được nâng cao, sẽ
giúp chúng ta từng bước hạn chế và đi đến xóa bỏ được tư tưởng bảo thủ,
trì trệ cả trong tư duy và hành động.
Sự Thật
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét