XÂY DỰNG HẬU PHƯƠNG THỜI KỲ
CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC (1954 – 1975)
Bàn Luận
Đế quốc Mỹ
có âm mưu can thiệp vào Việt Nam từ thời kỳ 1945-1946, khi ủng hộ quân đội
Tưởng Giới Thạch kéo vào hòng lật đổ chính quyền cách mạng non trẻ, lập
chính quyền tay sai. Từ năm 1950, Mỹ công khai giúp Pháp duy trì, đẩy mạnh cuộc
chiến tranh Đông Dương và từ tháng 7/1954, khi Pháp thất bại, Mỹ đã trực tiếp
cai trị và biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới của Hoa Kỳ. Đế quốc
Mỹ đã huy động mọi nguồn lực có thể để thực hiện cuộc chiến tranh xâm lược Việt
Nam.
Để đối phó
với cuộc chiến tranh xâm lược đó, theo sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và Hồ Chí
Minh, Việt Nam đã rất coi trọng xây dựng hậu phương về mọi mặt, tạo nên tiềm
lực ngày càng to lớn nhằm bảm đảm hậu cần, nâng cao sức mạnh của của Quân đội,
để đẩy mạng cuộc kháng chiến từ thấp đến cao, đến toàn thắng.
Ở
miền Bắc, về chính trị, từ 7/1954, Việt Nam đã có chủ trương thanh thủ hòa bình,
củng cố miền Bắc, quyết định tập kết lực lượng từ miền Nam ra miền Bắc, xây
dựng miền Bắc thành căn cứ địa của cách mạng cả nước. Thời kỳ 1955-1960, Việt
Nam tập trung hoàn thành các nhiệm vụ còn lại của cách mạng dân tộc dân chủ,
khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh, tiến hành cải tạo xã hội chủ
nghĩa để đưa miền Bắc đi lên chủ nghĩa xã hội, làm hậu thuẫn cho đấu tranh
thống nhất nước nhà.
Tháng 9/1960,
Đại hội lần thứ III của Đảng đã hoàn chỉnh đường lối cách mạng Việt Nam trong
giai đoạn mới, xác định tuy cùng thực hiện một mục tiêu chung là giải phóng
miền Nam, song miền Bắc và miền Nam có vai trò, vị trí riêng, trong đó cách
mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc giữ vai trò quyết định nhất đối với toàn bộ sự
nghiệp cách mạng Việt Nam, với việc thống nhất Tổ quốc nên phải ra sức xây dựng
và bảo vệ miền Bắc, làm cho miền Bắc trở thành căn cứ địa của cả nước, hậu
phương chiến lược cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam. Nhiều phong trào
quần chúng thi đua xây dựng chủ nghĩa xã hội, tăng cường quốc phòng được phát
động, như : “Gió Đại Phong, sóng Duyên Hải, cờ Ba nhất”, “mỗi người làm việc
bằng hai vì miền Nam ruột thịt”, “toàn dân làm giao thông vận tải”, “tất cả vì
tiền tuyến lớn miền Nam.
- Về
kinh tế, đến năm 1957, miền Bắc hoàn thành kế hoạch khôi kinh tế, hàn
gắn vết thương chiến tranh, đạt mức độ tăng trưởng như năm 1939, năm thịnh đạt
nhất thời Pháp thuộc. Đến năm 1965, miền Bắc đã có bước phát triển mới với sự
xuất hiện nhiều khu công nghiệp lớn Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Vinh, Thái
Nguyên, Việt Trì; các mục tiêu đề ra cho kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-
1965) trong nông nghiệp, công nghiệp, giao thông vận tải, cải thiện đời sống
nhân dân, nâng cao tiềm lực quốc phòng… đều căn bản đạt và vượt mức yêu cầu. Từ
năm 1965 đến năm 1972, tuy bị thiệt hại lớn do chiến tranh phá hoại của không
quân, hải quân Mỹ, nhất là công nghiệp, giao thông vận tải, song nông nghiệp,
công nghiệp địa phương miền Bắc vẫn được giữ vững và tiếp tục phát triển. Từ
năm 1973, sau khi có Hiệp định Paris, miền Bắc đã tập trung khôi phục kinh tế,
phát triển mạnh tiềm lực hậu phương, đến năm 1975 đã đạt mức tăng trưởng của
năm 1965 và có mặt phát triển hơn, quan hệ đối ngoại được mở rộng.
-
Về văn hóa, xã hội, trong thời kỳ 1954-1964, miền Bắc
đã đẩy mạnh phong trào xóa nạn mù chữ, xây dựng đời sống mới, phát triển mạnh
giáo dục đào tạo, nâng cao trình độ học vấn cho mọi tầng lớp nhân dân. Các cơ
sở vật chất về văn hóa, y tế, giáo dục được xây dựng. Trong thời kỳ 1965-1975,
dù chiến tranh ác liệt, nhưng với khẩu hiệu “Không có gì quý hơn độc lập,
tự do”, với khí thế “Ba sẵn sàng”, “Ba đảm đang”, “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu
nước”, miền Bắc đã đề cao hơn bao giờ hết tinh thần hướng ra tiền tuyến, tỉnh
cảm Bắc-Nam ruột thịt...
-
Về quân sự, ngay sau khi có Hiệp định
Giơnevơ (1954) hòa bình lập lại, Đảng, Nhà nước đã chủ trương tăng cường tiềm
lực quốc phòng của miền Bắc. Từ năm 1957, Quân đội nhân dân được xây dựng một
bước tiến lên chính quy hiện đại. Tổng quân số thường trực được duy trì ở mức
độ thích hợp: năm 1959 có 160.000 người, năm 1963 có 170.000 người (bằng 1% số
dân). Ngoài ra còn có 16.000 công nhân viên quốc phòng, 21.000 công an vũ
trang, 1,2 triệu quân dự bị, 1,4 triệu dân quân tự vệ. Đầu năm 1965 miền Bắc có
195.000 bộ đội thường trực, cuối 1965 lên 400.000 người. Vũ khí trang bị được
nâng cấp, nhiều quân binh chủng kỹ thuật được thành lập.
Thời kỳ
1965-1975 thế trận chiến tranh nhân dân được xây dựng vững chắc, có nhiều khu
vực phòng thủ mạnh như Hà Nội, khu IV. Đoàn 559 được tăng cường thành Bộ đội
Trường Sơn với 3 sư đoàn công binh, 2 sư đoàn và 29 trung đoàn vận tải, 6.770
xe ô tô. Đường Trường Sơn có nhiều tuyến dọc, ngang với tổng độ dài 16.790 km
(cả Đông và Tây). Có 1.712 km đường ống xăng dầu từ miền Bắc vào miền Nam với
101 trạm bơm.
- Về
tiếp nhận viện trợ quốc tế, với đường lối đối ngoại đúng đắn và chủ trương
vận động quốc tế linh hoạt, miền Bắc đã nhận được sự ủng hộ về tinh thần rất to
lớn và một khối lượng lớn vũ khí, trang bị quân sự hết sức quan trọng do các
nước chi viện, chủ yếu qua đường sắt và đường thủy. Sự giúp đỡ quân sự của
Trung Quốc đối với Việt Nam từ năm 1964 đến năm 1968 là rất to lớn.
Sự giúp đỡ
quân sự của Liên Xô cho Việt Nam bắt đầu được đẩy mạnh từ năm 1965 khi Liên Xô
đồng ý cung cấp giúp đỡ hệ thống tên lửa đất đối không, máy bay, phi công huấn
luyện và đội ngũ kỹ thuật viên nhằm bảo vệ khu vực Hà Nội, Hải Phòng và
một số thành phố quan trọng khác. Ngay trong năm 1965, một số máy bay MIG
15, 17 và IL 28 đã được chuyển đến Việt Nam. Tính đến năm 1967, tổng viện trợ
của các nước xã hội chủ nghĩa cho Việt Nam là khoảng 1,5 tỷ Rúp (hơn 1,5 tỷ
USD), trong đó sự trợ giúp của Liên Xô chiếm 36,8% (608 triệu USD). Đến cuối
1967, sự trợ giúp của Liên Xô tăng lên 50% tổng giá trị giúp đỡ của phe xã hội
chủ nghĩa, trong đó sự giúp đỡ về quân sự chiếm 2/3. Năm 1968, Liên Xô đã dẫn
đầu danh sánh các nước xã hội chủ nghĩa giúp đỡ Việt Nam, với tổng giá trị đạt
542 triệu Rúp (582,2 triệu USD). Ngoài ra còn có khoảng 1.500 đến 2.500 lượt
chuyên gia quân sự Liên Xô, bao gồm kỹ sư, phi công, kỹ thuật viên phụ trách hệ
thống ra đa, tên lửa đã phục vụ ở Việt Nam trong thời gian chiến tranh.
Trong giai
đoạn 1969-1972, tiềm lực của hậu phương miền Bắc càng được tăng lên nhanh nhờ
sự viện trợ của Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa anh em, nhất
là về quân sự.
Với sự lớn
mạnh của hậu phương miền Bắc và sự chi viện to lớn của các nước anh em, tiềm
lực quân sự của Việt Nam được tăng cường về mọi mặt. Ngày 24/10/1973 Quân đoàn
1 (Binh đoàn Quyết Thắng) ra đời ở Tam Điệp (Ninh Bình)...
Miền Bắc
đã đánh thắng 2 cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, bảo vệ được địa bàn
và góp phần “chia lửa” với tiền tuyến miền Nam. Cả hai lần chống chiến tranh
phá hoại, miền Bắcđã bắn rơi 4.181 máy bay, có 68 B52, 13 F111, bắn cháy, chìm
271 tàu chiến. Trong đó dân quân tự vệ bắn rơi 357 chiếc máy bay, lão dân quân
bắn rơi 6 chiếc, nữ dân quân bắn rơi 30 chiếc. Riêng trong cuộc chiến đấu năm
1972, nhất là trận Điện Biên Phủ trên không 12 ngày đêm cuối 1972
(18-30/12), miền Bắc đã bắn rơi nhiều loại máy bay hiện đại của Mỹ, trong đó có
62 B52, 10 F111, bắn chay, chìm 128 tàu chiến.
Tuy nhiên,
miền Bắc cũng bị tàn phá nặng nề qua hai cuộc chiến tranh phá hoại của không
quân, hải quân Mỹ. Trong công nghiệp, có 18% máy móc công nghiệp không sử dụng
được, 26% máy móc công nghiệp bị hư hỏng, số còn lại chỉ hoạt động 6h/ngày, 91
ngày/năm. Trong nông nghiệp, diện tích trồng trọt giảm 3,6%, chi phí sản xuất
tăng 75 %. Thu nhập của xã viên giảm 23,7%, lương thực bình quân đầu người từ
305 kg (1961-1965) xuống còn 252 kg (1966-1975). Giao thông vận tải chịu 60% sự
đánh phá của địch. Trong những năm 1965-1968, trung bình cứ 1 km đường bộ
có 19,3 quả bom và bị đánh 4 lần, 1 km đường sắt Hà Nội- Vinh bị đánh 19,5 lần.
Hàng chục vạn người bị chết. Hầu hết công trình xây dựng, cầu cống, bệnh viện,
trường học... bị tàn phá.
Ở
miền Nam, về chính trị, Việt
Nam đã sớm có chủ trương xây dựng hậu phương tại chỗ. Năm 1954, khi thực hiện
tập kết lực lượng ra miền Bắc, nhiều cán bộ đã ở lại bám cơ sở và chuyển cuộc
chiến đấu sang đấu tranh chính trị, hợp pháp đòi thực hiện tổng tuyển cử hòa
bình thống nhất như quy định của Hiệp định Giơnevơ. Từ 1960, sau phong trào
Đồng Khởi, Việt Nam đã chủ trương bảo vệ, xây dựng các vùng giải phóng thành
hậu phương tại chỗ, thành lập và sử dụng Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam
Việt Nam kiêm nhiệm chức năng chính quyền cách mạng, củng cố Trung ương cục,
xây dựng Đảng Nhân dân cách mạng miền Nam, xây dựng Đoàn Thanh niên cách mạng,
Hội lao động giải phóng... Đến 1969, Việt Nam đã chủ trương thành lập Chính phủ
cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, xây dựng hệ thống chính quyền
cách mạng các cấp ở vùng giải phóng và các các căn cứ du kích, các vùng tranh
chấp. Mặt trận Dân tộc giải phóng và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoàn
miền Nam Việt Nam được nhiều nước trên thế giới công nhận, đặt quan hệ ngoại
giao và ủng hộ, giúp đỡ.
-
Về kinh tế, văn hóa xã hội, từ
năm 1960, tại các vùng giải phóng, khu căn cứ lớn, Việt Nam chủ trương phát
triển sản xuất, thực hiện đảm bảo một phần nhu cầu lương thực, vũ khí tại chỗ
cho bộ đội, nhân dân, nhất là ở Tây Nguyên, Đông Nam Bộ. Mặt khác đã tiếp nhận
có hiệu quả sự chi viện vất chất của hậu phương miền Bắc và tìm mọi cách lấy
kinh tế địch để đánh địch, vận động nhân dân các vùng tạm bị chiếm ủng hộ quân
giải phóng, tiếp tế cho các căn cứ kháng chiến. Với nhiều cố gắng, hậu
phương tại chỗ ở miền Nam đã bảo đảm được một phần quan trọng nhu cầu thực
phẩm, lương thực, vũ khí và các nhu yếu phẩm cho bộ đội chủ lực, phần lớn
các nhu cầu cho bộ đội địa phương và dân quân du kích. Với lực lượng giáo viên
tại chỗ và đưa từ hậu phương lớn miền Bắc vào, hệ thống giáo dục phổ thông được
xây dựng, trước hết là bậc tiểu học. Mạng lưới y tế được tăng cường với các
tuyến bệnh viện bệnh xá, trại an dưỡng, trạm phẫu thuật các cấp. Các đội chiếu
phim, đoàn văn công đã lưu động phục vụ bộ đội, nhân dân…
-
Về quân sự, từ năm 1960, khi có vùng giải
phóng, có các chiến khu, Việt Nam đã đẩy mạnh xây dựng các đơn vị vũ trang các
cấp, thành lập Quân giải phóng, Bộ chỉ huy toàn miền và của các khu, các tỉnh.
Nhiều công binh xưởng được xây dựng, sản xuất vũ khí cung cấp cho lực lượng vũ
trang địa phương. Việc lấy vũ khí, phương tiện chiến tranh của địch để đánh
địch được phát động, trở thành phong trào chung, thu kết quả hết sức to lớn. Hệ
thống kho tàng, đường sá, trạm giao liên tiếp nhận sự chi viện quân sự của hậu
phương lớn được tổ chức liên thông, không chỉ trên đất miền Nam mà còn phát
triển rộng lớn cả ở trên đất các nước bạn Lào và Campuchia. Với sự chi viện của
hậu phương lớn miền Bắc, ngày 17/5/1974, Quân đoàn 2 (Binh đoàn Hương
Giang) được thành lập ở Trị Thiên, ngày 20/7/1974, Quân đoàn 4 (binh đoàn Cửu
Long) ra đời ở Đông Nam Bộ, ngày 27/3/1975, Quân đoàn 3 (Binh đoàn Tây Nguyên)
ra đời ở Tây Nguyên.
Nhìn
chung, tại các căn cứ, vùng giải phóng miền Nam và ở Lào, Campuchia, Việt Nam
đã xây dựng được hậu phương tại chỗ vững mạnh, có năng lực tiếp nhân sự
chi viện của hậu phương lớn miền Bắc, bảo đảm ngày càng đầy đủ hậu cần cho Quân
giải phóng toàn Miền và cho cả chiến trường ba nước Đông Dương chiến đấu và
chiến thắng.
Hạn
chế trong xây dựng hậu phương bảo
đảm hậu cần cho Quân đội của Việt Nam thời kỳ 1954- 1975 là tư duy về xây dựng
chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc còn giản đơn, mô phỏng nước ngoài, vội cải tạo một
số thành phần kinh tế đang cón tác dụng, vội đẩy mạnh công nghiệp hóa khi còn
thiều các điều kiện cơ bản. Quy mô sản xuất nhiều lĩnh vực chưa thích hợp, ham
quy mô lớn, nhất là trong hoàn cảnh chiến tranh. Việc kết hợp xây dựng với bảo
vệ hậu phương, chi viện tiền tuyến cả ở miền Bắc và vùng giải phóng miền Nam có
lúc chưa chặt chẽ, bị lãnh phí nhiều, có nơi, có lúc bị địch gây tổn thất lớn.
Các tổ chức quần chúng, phong trào thi đua còn hình thức, chất lượng thấp. Tư
tưởng ỷ lại, trông chờ viện trợ, chi viện từ bên ngoài còn nặng, tâm lý bao cấp
thời chiến trở nên phổ biến, gây hậu quả lâu dài về sau…
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét