Thứ Sáu, 17 tháng 4, 2020


TRANH THỦ KHẢ NĂNG GIÀNH THẮNG LỢI
BẰNG PHƯƠNG PHÁP HOÀ BÌNH, CHỈ ĐẠO
CUỘC ĐẤU TRANH THI HÀNH HIỆP ĐỊNH PARI,
LÀM THAY ĐỔI SO SÁNH LỰC LƯỢNG
CÓ LỢI CHO CÁCH MẠNG
Hoằng Tháo

          Ngày 23-1-1973, Hiệp định Pari được ký tắt giữa Lê Đức Thọ và H.Kisinge. Ngày 24-1-1973, Ban Bí thư Trung ương Đảng xác định: “Đấu tranh thi hành Hiệp định và công tác quốc tế trở thành những công tác quan trọng và cấp bách của Đảng và Nhà nước".
Ngày 28-1-1973, Ban chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra Lời kêu gọi, long trọng tuyên bố sẽ thi hành nghiêm chỉnh và triệt để mọi điều khoản của Hiệp định Pari, và đòi hỏi các bên tham gia ký kết tôn trọng và thực hiện đầy đủ.
          Sau khi Hội nghị quốc tế ký Định ước xác nhận và bảo đảm Hiệp định Pari về Việt Nam (3-1973), Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam nhanh chóng cử các đoàn đại biểu tham gia các Ban Liên hợp Quân sự hai bên và bốn bên.
          Ban Chỉ đạo đấu tranh thi hành Hiệp định Pari được thành lập do Lê Đức Thọ làm Trưởng ban, với nhiệm vụ theo dõi tình hình thi hành Hiệp định về các mặt quân sự, chính trị, ngoại giao, kinh tế; đôn đốc, hướng dẫn các ngành và các cơ quan hữu quan trong việc đấu tranh thi hành Hiệp định; trực tiếp phụ trách việc đấu tranh thi hành các điều khoản về chính trị nội bộ miền Nam, bao gồm cả việc đấu tranh tại Hội nghị hiệp thương hai bên miền Nam ở La Xen Xanh Clu (La Celle Saint Cloud).  
          Đấu tranh thi hành Hiệp định Pari không phải chỉ là đòi thực hiện các điều khoản của Hiệp định, mặc dù đó cũng là một bộ phận quan trọng của đấu tranh cách mạng, mà vấn đề có ý nghĩa quyết định là làm thay đổi so sánh lực lượng có lợi cho cách mạng. Bộ Chính trị chỉ rõ: “Đây là khả năng giành thắng lợi không phải thông qua con đường chiến tranh cách mạng mà chủ yếu bằng phong trào đấu tranh cách mạng, bằng hành động cách mạng bạo lực của quần chúng, nhưng cũng phải trên cơ sở giữ vững và củng cố được thế quân sự của ta ngày càng mạnh, biết dùng sức mạnh quân sự của ta và tiến công binh vận để đánh bại sự phản kích của địch, kết hợp chính trị với quân sự và ngoại giao để dằn địch lại không để cho chúng mở rộng xung đột quân sự để gây lại chiến tranh”.
          Giương cao ngọn cờ hòa bình, thi hành Hiệp định, ngày 10-2-1973, Bộ Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam và Bộ Ngoại giao Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khẳng định lập trường của nhân dân Việt Nam là nghiêm chỉnh và triệt để thi hành Hiệp định và các nghị định thư, kiên quyết giữ vững hòa bình, đồng thời kiên quyết không tha thứ cho những hành động của chính quyền Việt Nam Cộng hoà cũng như Hoa Kỳ vi phạm Hiệp định; đòi Mỹ phải hoàn toàn chấm dứt dính líu vào công việc nội bộ của Việt Nam, không được viện trợ quân sự cho chính quyền Việt Nam Cộng hoà. Đó cũng là nội dung đấu tranh bao trùm trên mặt trận dư luận quốc tế, phát huy thế mạnh cả về chính trị và pháp lý của nhân dân Việt Nam; góp phần ngăn chặn khả năng Mỹ liều lĩnh trở lại bằng quân sự.
          Trong cục diện “vừa đánh vừa đàm”, Đảng chỉ đạo đấu tranh trên mọi diễn đàn trong nước và quốc tế, ở các Ban liên hợp Quân sự hai bên, bốn bên tại Tân Sơn Nhất và Hội nghị hiệp thương hai bên miền Nam ở Pari.
          Ngày 16-4-1973, Bộ Ngoại giao nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa gửi Công hàm tới Bộ Ngoại giao các nước ký Định ước Pari về Việt Nam và Tổng Thư ký Liên hợp quốc Cuốcvanhem nêu ba vấn đề cấp bách là: ngừng bắn, thực hiện các quyền tự do dân chủ và thả tù chính trị ở miền Nam. Đó là những nội dung cơ bản của Hiệp định Pari, nhưng Hoa Kỳ và chính quyền Sài Gòn thường xuyên công khai vi phạm, tạo điều kiện cho đấu tranh quân sự trừng trị những hành động phá hoại Hiệp định.
          Nghị quyết số 236 của Bộ Chính trị vạch rõ “phải đánh đổ Nguyễn Văn Thiệu thì mới có hòa bình và hoà giải dân tộc”. “Cần hình thành một mặt trận rộng rãi chống Thiệu, thành lập một chính quyền tán thành thật sự việc thi hành Hiệp định Pari, ban hành các quyền tự do dân chủ trong vùng chính quyền Sài Gòn kiểm soát, trả lại tự do cho các tù chính trị, thực hiện hòa bình và hoà hợp dân tộc”.
          Các phương tiện thông tin đại chúng tập trung mũi nhọn vào Nguyễn Văn Thiệu, làm rõ yêu cầu: phải đánh đổ Nguyễn Văn Thiệu, thành lập ở Sài Gòn một chính quyền tán thành thi hành Hiệp định Pari, thực hiện các quyền tự do dân chủ trong vùng họ kiểm soát, trả lại tự do cho các tù chính trị.
          Trước tình hình quân đội Việt Nam Cộng hoà liên tiếp phá hoại việc ngừng bắn, ngày 28-6-1973, Quân uỷ Trung ương xác định nhiệm vụ trước mắt của các lực lượng vũ trang nhân dân miền Nam là nắm vững chiến lược tiến công, làm thất bại mọi hành động lấn chiếm của quân đội Sài Gòn, giữ vững vùng giải phóng và chính quyền cách mạng; đồng thời chuẩn bị sẵn sàng về mọi mặt, kiên quyết tiêu diệt lực lượng đối phương mở rộng chiến tranh quy mô lớn.
          Tháng 10-1973, Hội nghị 21 Ban chấp hành Trung ương Đảng họp đợt hai, tiếp tục khẳng định con đường bạo lực cách mạng; chủ trương đẩy mạnh cuộc đấu tranh trên ba mặt trận: quân sự, chính trị và ngoại giao; tận dụng các diễn đàn đấu tranh ngoại giao buộc đối phương phải thi hành Hiệp định Pari; đồng thời chủ động chuẩn bị sẵn sàng cho trường hợp phải tiến hành chiến tranh cách mạng trên khắp chiến trường miền Nam để giành thắng lợi hoàn toàn. Ban chấp hành Trung ương Đảng chủ trương: “Nắm vững pháp lý của Hiệp định Pari về Việt Nam, giương cao ngọn cờ hoà bình và lập trường chính nghĩa của ta, kiên quyết và kịp thời vạch trần trước dư luận trong nước và dư luận thế giới mọi âm mưu và hành động của địch vi phạm Hiệp định. Ra sức tranh thủ lực lượng Việt kiều ở nước ngoài tán thành và ủng hộ giải pháp của ta; tranh thủ dư luận quốc tế đồng tình, ủng hộ ta, lên án và gây sức ép đối với Mỹ và chính quyền Sài Gòn, ngăn chặn những âm mưu và hành động ngang ngược của chúng”.
          Ngày 15-10-1973, Bộ Chỉ huy các lực lượng vũ trang Giải phóng miền Nam ra lệnh: Kiên quyết giáng trả các hành động chiến tranh của chính quyền Sài Gòn, bất cứ ở đâu bằng các hình thức và lực lượng thích hợp.
          Chấp hành mệnh lệnh trên, các lực lượng vũ trang giải phóng kiên quyết phản công và tiến công, làm cho quân đội Sài Gòn hao hụt về số lượng, sa sút về tinh thần, lâm vào thế phòng ngự bị động. Trong khi đó, lực lượng cách mạng giữ vững quyền chủ động trên khắp các chiến trường, củng cố và hoàn chỉnh thế chiến lược liên hoàn từ Bắc vào Nam, tăng cường các binh đoàn chủ lực cơ động và bố trí hợp lý trên các chiến trường; cải thiện tình hình nông thôn đồng bằng, phát động phong trào đấu tranh chính trị rộng lớn, đồng thời tranh thủ sự đồng tình ủng hộ quốc tế.
          Tháng 1-1974, Bộ Ngoại giao nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa công bố cuốn Sách Trắng “Một năm thi hành Hiệp định Pari”, tố cáo Hoa Kỳ và chính quyền Việt Nam Cộng hoà phá hoại có hệ thống Hiệp định, nêu cao thiện chí và quyết tâm của nhân dân Việt Nam, làm rõ trước dư luận thế giới tình hình thực tế ở Việt Nam sau Hiệp định Pari do chính sách can thiệp của Hoa Kỳ và âm mưu kéo dài chiến tranh của chính quyền Việt Nam Cộng hoà.
          Đảng chỉ đạo phối hợp với cuộc đấu tranh của nhân dân Lào và Campuchia, ủng hộ Lào ký hiệp định và nghị định thư có lợi cho cách mạng Lào, tích cực chi viện Campuchia đấu tranh vũ trang chống Mỹ và chính quyền thân Mỹ ở Phnômpênh.
          Cuộc đấu tranh thi hành Hiệp định Pari đã nêu cao tính chất chính nghĩa và thiện chí hoà bình của nhân dân Việt Nam, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ và đoàn kết quốc tế. Từ tháng 1-1973 đến tháng 4-1975, có thêm 27 nước công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà về mặt ngoại giao. Các nước xã hội chủ nghĩa bày tỏ sẵn sàng giúp đỡ xây dựng lại miền Bắc Việt Nam. Nhiều nước xoá nợ cho Việt Nam và coi viện trợ của họ trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ của Việt Nam là viện trợ không hoàn lại. Hội nghị ngoại trưởng các nước Phong trào Không liên kết lên tiếng đòi Mỹ và chính quyền Sài Gòn phải ngừng những hành động chiến tranh, thi hành thoả thuận ngừng bắn. Hội nghị quốc tế đoàn kết với nhân dân Việt Nam họp tại Xtốckhôm năm 1974 đòi Mỹ và chính quyền Sài Gòn phải nghiêm chỉnh thực hiện các điều khoản của Hiệp định Pari. Dư luận quốc tế luôn cảnh giác với Mỹ. Mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ nhân dân Việt Nam đấu tranh thi hành Hiệp định Pari ngày càng phát triển. Cả thế giới đều thấy rõ Mỹ và chính quyền Sài Gòn là kẻ phá hoại Hiệp định Pari, là sức cản trở chủ yếu cho việc thực hiện hòa bình và hoà hợp dân tộc ở Việt Nam.
          Quá trình đấu tranh thi hành Hiệp định Pari làm cho tình hình chiến trường miền Nam, tình hình quốc tế biến chuyển theo hướng ngày càng có lợi cho cách mạng Việt Nam, tạo điều kiện cho nhân dân Việt Nam tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét