CHỦ
LỰC VỚI PHONG TRÀO NỔI DẬY CỦA QUẦN CHÚNG
TRONG CHIẾN DỊCH
HỒ CHÍ MINH LỊCH SỬ
Hoa Súng
Thắng
lợi của Chiến dịch Hồ Chí Minh trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân
1975 là kết quả của nhiều yếu tố; trong đó, nghệ thuật kết hợp tác chiến của
các binh đoàn chủ lực với phong trào nổi dậy của quần chúng là nội dung quan
trọng, tạo sức mạnh tổng hợp, đập tan chính quyền tay sai, giải phóng hoàn toàn
miền Nam, thống nhất đất nước.
Vận dụng
sáng tạo và phát huy truyền thống “cả nước đánh giặc” trong lịch sử dựng nước
và giữ nước của dân tộc vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất
đất nước, Đảng ta chủ trương tiến hành phương thức chiến tranh nhân dân; trong
đó, xác định: “Tiến công quân sự phải đi trước một bước để hỗ trợ và kết hợp
với nổi dậy của quần chúng”1, nhằm tiêu diệt địch và giành quyền làm
chủ. Thực hiện chủ trương đó, trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân
1975 nói chung, Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử nói riêng, chúng ta đã thực hiện
thành công nghệ thuật kết hợp tác chiến của các binh đoàn chủ lực với phong
trào nổi dậy của quần chúng, tạo sức mạnh tổng hợp đưa cuộc cách mạng dân tộc,
dân chủ, nhân dân ở miền Nam đến thắng lợi hoàn toàn. Trong sự kết hợp đó, các
đòn tiến công quân sự của bộ đội chủ lực đã “châm ngòi”, làm “đòn bẩy” thúc đẩy
quần chúng vùng dậy đấu tranh; ngược lại, lực lượng quần chúng nhân dân tham
gia đấu tranh đa dạng về quy mô, phong phú về hình thức, lấy đấu tranh chính
trị, nổi dậy khởi nghĩa, giành chính quyền là mục tiêu cao nhất, tạo thế, lực,
thời cơ, địa bàn,… hỗ trợ lực lượng vũ trang ba thứ quân, đặc biệt là bộ đội
chủ lực thực hiện các trận then chốt quyết định, chiến dịch quyết chiến chiến
lược giành thắng lợi.
Đối với
nhân dân Sài Gòn - Gia Định, vốn có truyền thống yêu nước nồng nàn, dưới sự
lãnh đạo của Đảng, phong trào đấu tranh chống chế độ tàn bạo Mỹ - Diệm diễn ra
liên tục, bền bỉ, rộng khắp, gặp khí thế chiến thắng to lớn, dồn dập ở Tây
Nguyên, Huế - Đà Nẵng đã thổi bùng ngọn lửa đấu tranh cách mạng thành phong
trào sôi nổi, mạnh mẽ, kết hợp với sức mạnh của lực lượng vũ trang, đặc biệt là
bộ đội chủ lực làm nên cuộc Tổng tiến công và nổi dậy “long trời, lở đất”, đỉnh
cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Sự kết hợp đó được thể hiện trên một số
nội dung cơ bản sau.
Trước
hết, kết hợp chặt chẽ giữa tạo
lập thế trận tác chiến của các binh đoàn chủ lực với thế trận nổi dậy của quần
chúng trong tổ chức chuẩn bị Chiến dịch. Theo chỉ thị của Bộ Chính trị
và Quân ủy Trung ương, các quân khu 6, 7, 8, 9 ở miền Nam đẩy mạnh hoạt động
tác chiến tạo thế ở vùng phụ cận Sài Gòn. Tại khu vực miền Đông Nam Bộ, ta tổ
chức lực lượng tác chiến tạo thế, đánh cắt Đường 1, áp sát Trảng Bom, sẵn sàng
cắt tiếp Đường 15, khống chế Vũng Tàu, làm tê liệt sân bay Biên Hòa. Từ đầu
tháng 4-1975, Quân đoàn 4 triển khai lực lượng tập trung đánh lớn vào Sư đoàn
18 ngụy ở thị xã Xuân Lộc (tỉnh Long Khánh). Trên hướng Tây và Tây Nam Sài Gòn,
lực lượng ta đã bám sát, chuẩn bị cắt đứt trục đường huyết mạch số 4 (Sài Gòn -
đồng bằng sông Cửu Long). Binh đoàn 232 cùng các lực lượng vũ trang, chính trị
địa phương tiến đánh Tân An, Bến Lức,… triển khai thế trận tiến công Sài Gòn từ
phía Tây Nam, sẵn sàng chặn đường rút lui của địch từ Sài Gòn về Cần Thơ. Đồng
thời, bí mật bố trí 04 tiểu đoàn, nhiều đội biệt động ở ngoại thành, 60 tổ biệt
động, 300 quần chúng vũ trang do lực lượng biệt động chỉ huy ở nội thành; triển
khai Trung đoàn Thành đội Sài Gòn ở Gia Định và các đại đội, tiểu đoàn bộ đội
địa phương theo phương án đánh địch. Trên hướng Tây Bắc và Bắc, quân ta tập kết
lực lượng ở Nam Sông Bé và Dầu Tiếng; công tác bảo đảm hậu cần, kỹ thuật, nhất
là hệ thống đường hành lang nối liền các cánh quân, hướng đánh đầy đủ, sẵn sàng
tổng tiến công.
Để lãnh
đạo các lực lượng tập trung, thống nhất, Thành ủy Sài Gòn - Gia Định cùng với
Trung ương Cục và Quân ủy Miền xây dựng, triển khai kế hoạch phối hợp nổi dậy
của đồng bào Nam Bộ với hoạt động tác chiến của lực lượng vũ trang, tập trung
phối hợp với các binh đoàn cơ động chiến lược; tăng cường số lượng ủy viên ban
cán sự, bổ sung hàng trăm cán bộ, đảng viên, tuyên truyền viên, hàng nghìn đoàn
viên, huy động hàng chục nghìn quần chúng sẵn sàng làm hạt nhân cổ vũ đồng bào
nổi dậy đấu tranh. Đồng thời, tổ chức các cơ sở chính trị trong nội đô, nắm
tình hình địa bàn, chuẩn bị phương tiện, vật chất (loa phóng thanh, cờ, khẩu
hiệu,…) theo kế hoạch nổi dậy, giành quyền làm chủ; phối hợp với lực lượng tác
chiến chiến lược tổng tiến công của 05 binh đoàn chủ lực, bộ đội đặc công, các
đội biệt động, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ, an ninh vũ trang,… hình thành
thế trận áp sát, bao vây Sài Gòn trên 04 hướng chiến lược, sẵn sàng tổng công
kích, chọc thủng tuyến phòng thủ vòng ngoài, chia cắt, thọc sâu đánh chiếm
trung tâm thành phố, giải phóng Sài Gòn. Đây là sự phát triển đỉnh cao của nghệ
thuật tạo lập thế trận chiến dịch, sự kết hợp khách quan giữa các binh đoàn cơ
động chiến lược - lực lượng vũ trang tại chỗ - lực lượng chính trị, quần chúng
trên địa bàn thành phố và các vùng ven đô, tạo sức mạnh vượt trội, bảo đảm cho
chiến dịch quyết chiến chiến lược cuối cùng giành thắng lợi nhanh chóng.
Hai
là, nghệ thuật kết hợp sức
mạnh của các binh đoàn chủ lực với phong trào nổi dậy của quần chúng trong thực
hiện phương pháp và kế hoạch tác chiến Chiến dịch. Quân ủy Trung ương
xác định: “Để tạo điều kiện cho các binh đoàn đột kích thọc sâu nhanh và đánh
trúng 05 mục tiêu đã định2, các trung đoàn, tiểu đoàn đặc công Sài
Gòn - Gia Định sẽ đánh chiếm các cầu qua sông, các đội biệt động, các lực lượng
an ninh vũ trang và tự vệ thành phố, các lực lượng chính trị của quần chúng tạo
các bàn đạp cho các binh đoàn chủ lực tiến quân, dẫn đường cho các đơn vị bộ
đội cơ động và phát động đông đảo quần chúng nổi dậy diệt tề điệp, trừ gian”3.
Theo đó, Bộ Tư lệnh Chiến dịch đã xây dựng kế hoạch nổi dậy của quần chúng để
phối hợp chặt chẽ với các đòn tiến công quân sự dồn dập, mãnh liệt của bộ đội
chủ lực; đồng thời, bí mật, khẩn trương phổ biến đến các cơ sở chính trị, hướng
dẫn hình thức, thời cơ nổi dậy, làm cơ sở huy động lực lượng quần chúng kết hợp
với lực lượng vũ trang tiến hành tổng tiến công và nổi dậy giành thắng lợi.
Công tác vận động binh lính và nhân viên ngụy quyền cũng được triển khai rất
khẩn trương. Trước ngày nổ súng tổng công kích vào Sài Gòn, ta công bố chính
sách của cách mạng đối với tù binh, hàng binh, kêu gọi binh sĩ địch hạ vũ khí
về với gia đình, lôi kéo cảnh sát, nhân viên chính quyền Việt Nam Cộng hòa đứng
về phía nhân dân, không chống lại cách mạng, v.v. Nhờ đó, các đòn đột phá của
05 binh đoàn chiến lược trên 04 hướng đã phát triển tiến công thuận lợi, đi
trước một bước, dọn đường, tạo đà để quần chúng nổi dậy giành quyền làm chủ ở
cơ sở phường, khóm, đường phố, góp phần quan trọng bảo đảm cho Chiến dịch giành
thắng lợi nhanh chóng, quyết định.
Ba
là, nghệ thuật kết hợp sử dụng
lực lượng quy mô lớn của ba mũi giáp công, tiến công mạnh về quân sự với nổi
dậy hiệu quả của quần chúng trong Chiến dịch. Với chiến dịch quyết
chiến chiến lược cuối cùng, ta xác định lấy các đòn tiến công quân sự của các
binh đoàn chủ lực giữ vai trò quyết định; đồng thời, phát huy sức mạnh tổng hợp
lớn nhất cả quân sự, chính trị và binh, địch vận, kết hợp tiến công và nổi dậy
để giành toàn thắng trong thời gian ngắn nhất. Các đòn tiến công quân sự nhanh,
mạnh, tiêu diệt và làm tan rã phần lớn quân chủ lực địch, tạo điều kiện cho các
cơ sở chính trị lãnh đạo, vận động quần chúng đứng lên đấu tranh giành chính
quyền và bảo vệ cơ sở vật chất của thành phố bàn giao cho chính quyền cách
mạng.
Tiến công
quân sự là hình thức tiến công quyết định với ba mũi giáp công trong chiến dịch
tiến công vào thành phố, tạo sức mạnh tổng hợp, toàn diện. Ở những nơi mà cánh
quân lớn của các binh đoàn chủ lực chưa tiến vào hoặc ở xa các trục đường tiến
quân, quần chúng dưới sự lãnh đạo của các tổ chức đảng và sự hỗ trợ của lực
lượng vũ trang tại chỗ đã tranh thủ thời cơ, vừa vận động, vừa đe dọa, buộc
binh lính địch đầu hàng; đồng thời, tổ chức đấu tranh, nhanh chóng nổi dậy
giành quyền làm chủ. Tại nhiều địa phương, bộ đội tiến tới đâu, nhân dân nổi
dậy tới đó, cùng với lực lượng vũ trang làm chủ địa bàn, thiết lập an ninh trật
tự, truy quét tàn binh địch. Quy mô, phạm vi nổi dậy và các hình thức, phương
pháp kết hợp giữa nổi dậy với tiến công quân sự đã phản ánh quy luật của khởi
nghĩa trong chiến tranh, sự kết hợp ba mũi giáp công, trong đó nghệ thuật kết
hợp tiến công quân sự với nổi dậy của quần chúng phát triển đến trình độ cao
trong Chiến dịch Hồ Chí Minh.
Bốn
là, nghệ thuật kết hợp đòn
đánh quyết định của các binh đoàn cơ động chiến lược với nổi dậy của quần chúng
và hoạt động tác chiến của lực lượng vũ trang tại chỗ, lấy đòn đánh lớn của bộ
đội chủ lực làm trung tâm phối hợp. Đây là sự khác biệt, nét đặc sắc
về nghệ thuật kết hợp sức mạnh giữa lực lượng vũ trang ba thứ quân với phong
trào nổi dậy của quần chúng; trong đó, đòn đánh của các binh đoàn cơ động chiến
lược giữ vai trò then chốt, quyết định thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi
dậy mùa Xuân 1975 nói chung, Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử nói riêng.
Sự phối
hợp hoạt động tác chiến quy mô lớn của bộ đội chủ lực trên các hướng của Chiến
dịch với lực lượng vũ trang địa phương đã bao vây, tiêu diệt, truy kích và làm
tan rã phần lớn các đồn bốt, chi khu, giải phóng một số tỉnh lỵ, hầu hết các
quận lỵ, xã, ấp,… làm nòng cốt, đòn bẩy cho hành động nổi dậy của quần chúng.
Đặc biệt, “Ở Sài Gòn, đã có 107 điểm quần chúng nổi dậy (31 điểm ở nội thành,
76 điểm ở ngoại thành), 32 điểm nổi dậy trước ngày 30 tháng 4; 30 điểm nổi dậy
sáng 30 tháng 4 và 45 điểm nổi dậy sau khi Tổng thống ngụy quyền tuyên bố đầu
hàng”4. Hành động nổi dậy của quần chúng có tác dụng hỗ trợ và phát
huy thắng lợi của đòn tiến công quân sự, tiếp tục phát triển cùng hoạt động tác
chiến của lực lượng vũ trang ba thứ quân. Trong đó, lực lượng vũ trang địa
phương đã tích cực phối hợp, hỗ trợ bộ đội chủ lực trong trinh sát địa hình,
cung cấp tình hình địch, dẫn đường; tổ chức các hoạt động tác chiến rộng khắp,
đánh vào bên sườn, phía sau, trong lòng địch, làm căng kéo, phân tán đối phó
của chúng trên các hướng, tạo bàn đạp, điều kiện cho bộ đội chủ lực tập trung
lực lượng đánh các trận then chốt quyết định tiêu diệt các mục tiêu chủ yếu,
làm tan rã lớn quân địch, đưa Chiến dịch đến toàn thắng.
Những nội
dung trên luận giải, làm sâu sắc thêm nghệ thuật kết hợp tác chiến của các binh
đoàn chủ lực với phong trào nổi dậy của quần chúng trong Chiến dịch Hồ Chí Minh
lịch sử; trên cơ sở đó, tiếp tục nghiên cứu, phát triển, vận dụng trong chiến
tranh bảo vệ Tổ quốc.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét