HẠ QUYẾT TÂM CHIẾN LƯỢC KỊP THỜI, CHÍNH XÁC
TRONG CHỈ ĐẠO CHIẾN LƯỢC CỦA BỘ CHÍNH TRỊ
Bàn Luận
Bước vào nửa cuối năm 1974, cục diện chiến tranh có sự
chuyển biến mạnh mẽ theo hướng ngày càng có lợi cho cách mạng. Trước tình hình
đó, Đảng Lao động Việt Nam triệu tập Hội nghị Bộ Chính trị (họp từ ngày
30/9-7/10/1974) đề bàn kế hoạch giải phóng hoàn toàn miền Nam.
Hội nghị
đã phân tích tình hình và rút ra những nhận định rất quan trọng: Về tương quan
so sánh lực lượng trên chiến trường, cách mạng đang ở thế thắng, thế chủ động
và tiến lên; trái lại địch chịu nhiều thất bại liên tiếp nên đang ở thế thua,
thế bị động và xuống dốc.
Mỹ đã rút
ra, đang gặp nhiều khó khăn, nên không có khả năng quay trở lại (can thiệp trực
tiếp bằng quân sự); dù cho Mỹ có can thiệp trở lại bằng quân sự trong chừng mực
nào đó thì cũng không xoay chuyển được tình thế, không cứu vãn được sự sụp đổ
của chế độ Sài Gòn.
Do có sự
thỏa hiệp với đế quốc Mỹ, một số nước lớn có ý đồ cản trở thắng lợi của cách
mạng Việt Nam, chia rẽ tình đoàn kết nhân dân ba nước Đông Dương nhằm phục vụ
cho mưu đồ xâm lược bành trướng, nhưng thời điểm này chưa đủ sức, chưa sẵn
sàng.
Từ những
nhận định trên, Bộ Chính trị đi đến khẳng định đây là thời cơ thuận lợi nhất để
nhân dân ta hoàn toàn giải phóng miền Nam, giành thắng lợi trọn vẹn. Hai mươi
năm nhân dân cả nước chiến đấu mới tạo được thời cơ này. Ngoài thời cơ này,
không còn thời cơ nào khác. Nếu để chậm mươi, mười lăm năm nữa, địch gượng dậy
được, các thế lực xâm lược bành trướng mạnh lên, tình hình sẽ phức tạp vô cùng.
Trên cơ sở
nhận diện đúng thời cơ, Bộ Chính trị đề ra quyết tâm: “Động viên những nỗ lực
lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ở cả hai miền, mở cuộc tổng tiến
công và nổi dậy cuối cùng, đưa chiến tranh cách mạng phát triển đến mức cao
nhất, tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ quân ngụy (...), đánh đổ ngụy quyền ở
trung ương và các cấp, giành toàn bộ chính quyền về tay nhân dân, giải phóng
hoàn toàn miền Nam” (trích Biên bản kết luận Hội nghị).
Về mặt
thời gian, Bộ Chính trị cơ bản thống nhất đề án xây dựng kế hoạch chiến lược
giải phóng miền Nam trong hai năm 1975-1976, chia làm hai bước: Bước 1 (1975),
tranh thủ thời cơ, bất ngờ mở cuộc tiến công lớn và rộng khắp. Bước 2 (1976),
thực hiện tổng công kích, tổng khởi nghĩa giải phóng hoàn toàn miền Nam, giành
toàn thắng.
Tuy nhiên,
tập thể Bộ Chính trị nhận thấy quyết tâm giải phóng hoàn toàn miền Nam lần này
có ý nghĩa lịch sử rất to lớn, vừa quyết định đến toàn bộ sự nghiệp kháng chiến
chống Mỹ, cứu nước của dân tộc, nhưng đồng thời mang tính chất thời đại sâu
sắc. Do đó, cần phải có thêm thời gian đánh giá tình hình kỹ hơn, thảo luận sâu
sắc hơn, xây dựng kế hoạch đầy đủ hơn, để đi đến hạ quyết tâm chiến lược cuối
cùng có cơ sở khoa học, bảo đảm chắc thắng.
Sau một
thời gian tiếp tục theo dõi tình hình quốc tế và khu vực có liên quan, đồng
thời nắm bắt cụ thể diễn biến từ chiến trường, có thêm cơ sở thực tiễn, Đảng
triệu tập Hội nghị Bộ Chính trị mở rộng (họp từ ngày 18/12/1974-8/1/1975),
trong đó có nhiều đồng chí lãnh đạo, phụ trách các chiến trường từ miền Nam
tham dự.
Hội nghị
cơ bản nhất trí với phương hướng chiến lược đã được Hội nghị Bộ Chính trị lần
trước thông qua; đồng thời đi sâu phân tích, làm rõ thêm so sánh lực lượng giữa
ta và địch; đánh giá khả năng can thiệp quân sự của Mỹ; trình độ tác chiến hiệp
đồng binh chủng quy mô lớn của chủ lực ta; về khả năng giành thắng lợi nhanh
gọn, triệt để...
Giữa lúc
Hội nghị đang diễn ra thì nhận được tin Quân giải phóng miền Nam đã giành thắng
lợi vang dội trong chiến dịch Đường 14-Phước Long (13/12/1974-6/1/1975). Ta
loại khỏi vòng chiến đấu hàng ngàn tên địch; phá hủy, thu giữ nhiều loại vũ
khí, đạn dược (trong đó có gần 10.000 viên đạn pháo); giải phóng toàn tỉnh
Phước Long với 50.000 dân, tạo thêm bàn đạp uy hiếp từ phía bắc Sài Gòn. Cả Mỹ
và chính quyền Sài Gòn đều phản ứng yếu ớt rồi chấp nhận thất bại.
Chiến
thắng Phước Long có giá trị như “đòn trinh sát chiến lược," cho thấy rõ
hơn khả năng Mỹ sẽ không can thiệp trở lại bằng quân sự; đồng thời bộc lộ trình
độ tác chiến yếu kém của chủ lực quân đội Sài Gòn, ta có thể giành thắng lợi
sớm hơn.
Dựa trên
những cơ sở thực tiễn mới nhất, đặc biệt là chiến thắng Phước Long, Hội nghị Bộ
Chính trị mở rộng khẳng định: “Thời cơ chiến lược của ta đang phát triển nhanh
chóng đến độ chín muồi”, từ đó, chính thức hạ quyết tâm chiến lược: “Động viên
nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ở cả hai miền, trong thời
gian hai năm 1975-1976 đẩy mạnh đấu tranh quân sự, chính trị, kết hợp với đấu
tranh ngoại giao, làm thay đổi nhanh chóng và toàn diện so sánh lực lượng trên
chiến trường miền Nam theo hướng có lợi cho ta; tiến hành rất khẩn trương và
hoàn thành mọi mặt công tác chuẩn bị, tạo điều kiện chín muồi, tiến hành tổng
công kích tổng khởi nghĩa tiêu diệt và làm tan rã ngụy quân, đánh đổ ngụy quyền
từ trung ương đến địa phương, giành chính quyền về tay nhân dân, giải phóng
miền Nam” (trích Biên bản kết luận Hội nghị).
Tuy đề ra
kế hoạch hai năm 1975-1976, Hội nghị lần này cũng chỉ rõ nếu thời cơ đến sớm
hơn, vào đầu hoặc cuối năm 1975, thì lập tức giải phóng miền Nam trong năm
1975. Phải tranh thủ đánh thắng nhanh để giảm bớt sự thiệt hại về người và của
cho nhân dân, giảm bớt sự tàn phá của chiến tranh. Bộ Chính trị thông qua kế
hoạch tác chiến chiến lược do Bộ Tổng tham mưu soạn thảo (trải qua 8 lần xin ý
kiến chỉnh sửa), thống nhất chọn Nam Tây Nguyên là hướng tiến công chủ yếu, với
mục tiêu chính là thị xã Buôn Ma Thuột.
Đây là quyết
tâm chiến lược cuối cùng giải phóng hoàn toàn miền Nam của tập thể Bộ Chính trị
Đảng Lao động Việt Nam, là kết quả của sự chuẩn bị chiến lược hết sức chủ động,
dũng cảm, sáng tạo, công phu kiên trì, bền bỉ trên tất cả các mặt (chính trị,
quân sự, ngoại giao, tiềm lực hậu phương và tiền tuyến, thế trận và lòng
người...) trong thời gian dài, thể hiện trí tuệ, bản lĩnh Việt Nam trong “cuộc
đụng đầu lịch sử” với đế quốc Mỹ và lực lượng phản động, tay sai.
Thực hiện
quyết tâm chiến lược của Bộ Chính trị đề ra, nhân dân cả nước ra sức chuẩn bị
mọi mặt với khí thế hào hùng chưa từng có, hướng tới trận quyết chiến chiến
lược cuối cùng. Trên khắp chiến trường, đầu năm 1975, quân dân ta đẩy mạnh hoạt
động, đánh địch khắp nơi theo quy mô vừa và nhỏ là chính, vừa làm cho địch tiếp
tục suy yếu và bị động, vừa thực hành nghi binh che giấu ý đồ, mục tiêu tiến
công chiến lược của ta.
Trong lúc
đó, Mỹ và chính quyền Sài Gòn vẫn chủ quan, đánh giá: sang năm 1975, phía Quân
giải phóng sẽ đánh với quy mô mạnh hơn năm 1974, nhưng không bằng năm 1968 và
năm 1972. Quân giải phóng cũng chưa có khả năng đánh chiếm thị xã, thành phố
lớn, và nếu có chiếm cũng không giữ được.
Chính
quyền Nguyễn Văn Thiệu còn nhận định: hướng tiến công chủ yếu của Quân giải
phóng là miền Đông Nam Bộ, do đó, bên cạnh việc tập trung lực lượng mạnh phòng
thủ ở Quân khu 1 (tiếp giáp miền Bắc), địch huy động lực lượng về củng cố phòng
thủ ở Quân khu 3 (miền Đông Nam Bộ).
Đối với
chiến trường Tây Nguyên, Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn phán đoán Quân giải
phóng sẽ đánh mạnh ở hướng Bắc Tây Nguyên, nên dồn lực lượng phòng thủ tại đây;
trong khi ở hướng Nam Tây Nguyên (có thị xã Buôn Ma Thuột) lực lượng địch bị
căng mỏng, bố trí phòng thủ có nhiều sơ hở. Thực tiễn đã khẳng định, đó là
những nhận định, đánh giá sai lầm chiến lược của Mỹ và chính quyền Sài Gòn.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét