SỨC
MẠNH ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC TRONG
KHÁNG
CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC
Trung Lập
Sau thất bại tại
Điện Biên Phủ (5/1954), thực dân Pháp buộc phải ký kết Hiệp định Geneve
(21/7/1954) công nhận độc lập, chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ ba
nước Đông Dương, rút quân về nước. Nhưng ngay sau đó, đế quốc Mỹ tìm cách thay
chân thực dân Pháp tiến hành chiến tranh xâm lược nhằm biến miền Nam Việt Nam
thành thuộc địa kiểu mới, một căn cứ quân sự phục vụ cho chiến lược toàn cầu
phản cách mạng. Đất nước ta tạm thời bị chia cắt làm hai miền với hai chế độ
chính trị - xã hội đối lập nhau: miền Bắc hoàn toàn giải phóng, miền Nam còn
nằm dưới sự cai trị của chủ nghĩa đế quốc, tay sai.
Thông qua các hình thức viện trợ, Mỹ
đã dựng lên chính quyền, quân đội Sài Gòn làm công cụ, ra sức đàn áp phong trào
yêu nước của đồng bào miền Nam. Đặc biệt, từ năm 1965, Mỹ ồ ạt đưa quân viễn
chinh, quân một số nước đồng minh cùng nhiều loại vũ khí, trang bị cùng phương
tiện chiến tranh hiện đại vào trực tiếp tham chiến ở miền Nam, đồng thời mở
cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân ra miền Bắc Việt Nam. Nhân
dân ta phải đương đầu với kẻ thù có tiềm lực kinh tế, quân sự lớn hơn gấp nhiều
lần (Mỹ đã chi cho cuộc chiến tranh Việt Nam 676 tỷ đôla; huy động lúc cao nhất
gần 55 vạn quân viễn chinh, 7 vạn đồng minh, trực tiếp chiến đấu và làm nòng
cốt cho khoảng 1 triệu quân đội Sài Gòn; sử dụng 7,8 triệu tấn bom đạn-nhiều
hơn lượng bom đạn trong bất cứ cuộc chiến tranh nào trước đó).
Sau một thời gian tìm tòi, thể nghiệm
về đường lối, trên tinh thần độc lập, tự chủ, vượt qua những tác động tiêu cực
từ bối cảnh quốc tế, tháng 1/1959, Hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp hành Trung ương
Đảng Lao động Việt Nam đã xác định con đường phát triển cơ bản của cách mạng
nước nhà là: phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, đẩy mạnh cách mạng xã
hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đồng thời đẩy mạnh cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân
ở miền Nam nhằm thực hiện mục tiêu chung là giải phóng hoàn toàn miền Nam, bảo
vệ miền Bắc, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, tạo
điều đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Đường lối này sau được Đại hội Đảng
toàn quốc lần thứ III (tháng 9/1960) chính thức thông qua, đáp ứng đúng nguyện
vọng tha thiết của đồng bào cả nước, có ảnh hưởng quyết định đến thắng lợi cuối
cùng của chiến tranh.
Bằng sức mạnh đó, nhân dân miền Bắc
vừa kiên cường chiến đấu, đánh bại hoàn toàn hai cuộc chiến tranh phá hoại bằng
không quân, hải quân của đế quốc Mỹ trong những năm 1965 - 1968 và 1972 - 1973
(bắn rơi gần 4.000 máy bay các loại; bắn chìm, bắn cháy 268 tàu chiến, tàu biệt
kích), vừa đẩy mạnh sản xuất, ra sức chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam. Toàn
bộ cuộc chiến tranh, miền Bắc đã chuyển vào chiến trường hàng triệu tấn vật
chất cùng hàng triệu thanh niên bổ sung cho lực lượng chiến đấu. Sự chi viện từ
miền Bắc cho miền Nam không chỉ tạo nên sức mạnh, phục vụ tốt nhiệm vụ chiến
đấu, mà còn đáp ứng yêu cầu xây dựng vùng giải phóng trên tất cả các mặt: kinh
tế, quốc phòng, văn hóa, giáo dục, y tế... và chuẩn bị cho việc tiếp quản vùng
giải phóng khi chiến tranh kết thúc. Đó thực sự là một trong những biểu tượng
rõ nét cho tình đoàn kết của nhân dân miền Bắc đối với miền Nam, tô đậm thêm
sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.
Được miền Bắc tích cực chi viện, quân
dân ta trên chiến trường miền Nam anh dũng đấu tranh, phối hợp cùng nhân dân
hai nước bạn (Lào, Campuchia) lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh của
kẻ thù: “chiến tranh một phía” (1954 - 1960), “chiến tranh đặc biệt” (1961 -
1965), “chiến tranh cục bộ” (1965 - 1968), “Việt Nam hóa chiến tranh” (1969 -
1973), buộc chính phủ Mỹ phải ký kết Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh,
lập lại hòa bình ở Việt Nam (1/1973), rút hết quân viễn chinh về nước (3/1973),
mở ra bước ngoặt mới cho kháng chiến.
Đến cuối năm 1974, đầu năm 1975, chớp
thời cơ chiến lược, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp, đề ra “Kế
hoạch giải phóng hoàn toàn miền Nam”, ra lời kêu gọi động viên nỗ lực lớn nhất
của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ở cả hai miền đẩy mạnh đấu tranh tiến hành
tổng công kích, tổng khởi nghĩa giành toàn thắng.
Thực hiện quyết tâm Bộ Chính trị đề
ra, cả dân tộc “ra quân” trong mùa Xuân 1975 lịch sử, mở đầu là chiến dịch Tây
Nguyên (từ ngày 4/3 - 3/4), tiếp đến là đòn tiến công giải phóng Huế - Đà Nẵng
(từ ngày 26/3 - 29/3) và cuối cùng là chiến dịch Hồ Chí Minh (từ ngày 26/4 -
30/4). Sức mạnh đại đoàn kết từ hơn 20 năm được dồn lại cho thời khắc lịch sử
này. Chỉ trong 55 ngày đêm, quân dân ta diệt, làm tan rã hơn 1,1 triệu quân
địch, đập tan bộ máy chính quyền và quân đội Sài Gòn, giải phóng miền Nam, kết
thúc thắng lợi hoàn toàn cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đồng thời kết
thúc vẻ vang chặng đường 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ
quốc (1945 - 1975), mở ra kỷ nguyên mới của dân tộc Việt Nam: cả nước độc lập,
thống nhất đi lên chủ nghĩa xã hội. Đó cũng chính là minh chứng rõ ràng nhất
cho sức mạnh vô địch của khối đại đoàn kết toàn dân tộc thời đại Hồ Chí Minh.
Rọi chiếu vào sức mạnh đại đoàn kết
của đối phương, bản thân người Mỹ cũng tự rút ra được nhiều bài học quý giá.
Cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam đã gây ra sự chia rẽ nước Mỹ mạnh mẽ nhất,
sâu sắc nhất kể từ sau cuộc nội chiến (1861 - 1865). Nhân dân trong nước phản
đối, người lính ra trận thiếu động cơ, lý tưởng chiến đấu. Đó thực sự là những
khó khăn to lớn, như tướng Mỹ Bruce Palmer thừa nhận: “Cuộc chiến tranh đã cho
chúng ta (người Mỹ) thấy rằng, đất nước không thể tiến hành chiến tranh trong
sự lạnh nhạt của dân chúng, gửi những chàng trai, cô gái đi chiến đấu trên
chiến trường mà không có sự động viên của mọi người”.
Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
của nhân dân Việt Nam với đỉnh cao là Đại thắng mùa Xuân 1975 trở thành một
biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, một sự
kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và mang tính thời đại sâu sắc. Làm nên
Chiến thắng lịch sử ấy, toàn thể nhân dân Việt Nam nêu cao tinh thần yêu nước
đoàn kết một lòng xung quanh Đảng, bền tâm vững chí, quyết chiến quyết thắng kẻ
thù xâm lược vì nền tự do, độc lập và vẹn toàn sông núi, bờ cõi, biên cương...
Việc phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc không chỉ là bài học lớn
đối với thắng lợi cuộc kháng chiến năm xưa, mà nó vẫn còn nguyên giá trị trong
công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc giai đoạn hiện nay.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét