ĐÁNH
GIÁ ĐÚNG THỜI CƠ, KẾT THÚC CỤC DIỆN
“VỪA
ĐÁNH VỪA ĐÀM”, XÁC ĐỊNH KẾ HOẠCH
VÀ
CHỈ ĐẠO CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY,
GIẢI
PHÓNG HOÀN TOÀN MIỀN NAM
Hướng Dương
Đối với cách
mạng Việt Nam, điều quan trọng của Hiệp định Pari là quân đội Hoa Kỳ phải rút,
còn lực lượng cách mạng tiếp tục ở lại miền Nam, giữ nguyên thế và lực của cách
mạng ở miền Nam để tiến lên hoàn thành độc lập dân tộc và thống nhất đất nước.
Bộ Chính trị Trung ương Đảng khẳng định: “Quyết tâm của chúng ta là tiến lên
giành thắng lợi cuối cùng chứ không bao giờ dừng lại" (14). Ngày
13-8-1974, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 236, nhấn mạnh yêu cầu đấu tranh trước
mắt cần cô lập và đánh đổ Nguyễn Văn Thiệu, đồng thời chuẩn bị tiến lên giành
thắng lợi lớn hơn khi có thời co. Bộ Chính trị chỉ rõ: “Cần hình thành một mặt
trận rộng rãi chống Thiệu, đòi đánh đổ Thiệu, thành lập một chính quyền tán
thành thật sự việc thi hành Hiệp định Pari, ban hành các quyền tự do dân chủ
trong vùng chính quyền Sài Gòn kiểm soát, trả lại tự do cho các tù chính trị,
thực hiện hoà bình và hoà hợp dân tộc” Mặt khác, Bộ Chính trị cũng chỉ rõ: “khi
thời cơ thuận lợi, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam có
thể mở một cuộc tiến công về ngoại giao, đẩy Mỹ - nguỵ vào chân tường, tranh
thủ sự đồng tình của dư luận rộng rãi trong nước và ngoài nước".
Sau 18 tháng
đấu tranh thi hành Hiệp định Pari, bản chất của chính quyền Việt Nam Cộng hoà
với nhãn hiệu “quốc gia” ngày càng lộ rõ. Khả năng thi hành Hiệp định Pari
không còn nữa. Phải xoá bỏ công cụ của chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam là tất
yếu. Đã đến lúc phải chấm dứt cục diện “vừa đánh, vừa đàm”.
Ngày
22-6-1974, xét thấy không thể giải quyết được vấn đề gì tại bàn hội nghị, Đoàn
dại biểu Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam tuyên bố đình
chỉ không thời hạn việc tham dự các phiên họp của các Ban Liên hợp Quân sự hai
bên và bốn bên. Ngày 23-6-1974, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên
bố ủng hộ quyết định đúng đắn của Cộng hoà miền Nam Việt Nam và cũng đình chỉ
tham dự các phiên họp của hai cơ quan liên hợp quân sự này. Các trưởng đoàn và
một bộ phận nhân viên của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Cộng hoà miền Nam Việt
nam trong các Ban Liên hợp Quân sự rời Tân Sơn Nhất. Bộ phận còn lại tiếp tục
làm nhiệm vụ đấu tranh trên trận dịa dư luận.
Ngày
9-8-1974, Tổng thống Nicxơn phải từ chức khi chưa hết nhiệm kỳ do cuộc “khủng
hoảng lòng tin” đang tràn ngập nước Mỹ, trực tiếp là do vụ bê bối Oatơghết được
đưa ra ánh sáng, làm cho tình hình nội bộ nước Mỹ rối loạn. “Đó là một đòn đánh
mạnh vào chính trị và tinh thần” của chế độ Việt Nam Cộng hoà, làm cho Nguyễn
Văn Thiệu “hoang mang, dao động trước sự thất thế của Níchxơn”.
Tại diễn đàn
hai bên Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Mỹ ở Pari, ngày 25-8-1974, Chính phủ Việt
Nam Dân chủ Cộng hoà gửi cho Mỹ một bức thông điệp cuối cùng phê phán Mỹ không
có thiện chí, gây trở ngại và có ý đồ phá hoại Hiệp định Pari. Từ đó, đoàn đại
biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà không dự họp nữa. Đàm phán tại diễn
đàn này cũng chấm dứt.
Tại diễn
đàn hai bên miền Nam Việt Nam ở Pari, sau một thời gian đấu tranh gay gắt, từ
tháng 8-1974 bị ngừng trệ, đến đầu năm 1975, Đoàn đại biểu Chính phủ Cách mạng
lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam đơn phương cắt hẳn việc tham gia diễn đàn
này.
Ngày
30-9-1974, Bộ Chính trị họp Hội nghị bàn nhiệm vụ chống Mỹ cứu nước trong hai
năm 1975-1976. Đợt một họp đến ngày 8-10-1974. Bộ Chính trị tập trung phân tích
tình hình quốc tế, đánh giá thời cơ chiến lược để giải phóng hoàn toàn miền Nam.
Mỹ đã thất bại trong âm mưu độc chiếm Đông Nam Á, phải xoay sang bắt tay, thoả
hiệp để chia quyền lợi và vùng ảnh hưởng với đối thủ của mình, tìm cách chặn
bước tiến của cách mạng Việt Nam, kéo dài tình trạng chia cắt nước Việt Nam. Ở
thời điểm này, Việt Nam không chỉ là vấn đề đối đầu giữa hai hệ thống thế giới,
mà về khách quan còn là đối thủ quan trọng phải khuất phục trong sự tính toán
chiến lược của những thế lực khác nhau muốn tranh giành Đông Nam Á. “Âm mưu của
họ rất nguy hiểm, nhưng lúc này chưa ai sẵn sàng, chưa ai làm nổi”. Mỹ đang rút
ra, trước mắt muốn giữ tình hình miền Nam ổn định trong một số năm để ngụy có
thể tiếp tục đứng vững và Mỹ có thời gian vượt qua những khó khăn trong nước.
So sánh lực lượng trên chiến trường đang có lợi cho ta. Ta đang ở thế thắng,
thế tiến lên. Địch bị thất bại liên tiếp cả về chính trị và quân sự, nên thế và
lực đang xuống dốc.
Để xác định
quyết tâm chiến lược, Bộ Chính trị thận trọng cân nhắc vấn đề Mỹ có mang quân
trở lại miền Nam hay không (?). Bản chất của Mỹ rất ngoan cố, nhưng sau những
chuỗi dài thất bại, ý chí xâm lược rã rời, đây là lúc Mỹ đang phải rút ra khỏi
Việt Nam, mà đã ra thì việc quay lại không phải dễ. Ngoan cố bám giữ miền Nam
đến cùng là một việc, mà quay trở lại miền Nam một lần nữa là một việc khác.
Bộ Chính trị kết luận: “Mỹ không có
khả năng quay lại miền Nam”, đồng thời khẳng định “dù Mỹ có can thiệp trở lại
trong chừng mực nào thì chúng cũng không xoay chuyển được tình thế, và ta vẫn
thắng”.
Trên cơ sở
phân tích toàn diện, Bộ Chính trị chỉ rõ quân và dân Việt Nam đang có thời cơ,
đây là thời cơ thuận lợi nhất để hoàn toàn giải phóng miền Nam, giành thắng lợi
trọn vẹn cho cách mạng dân tộc dân chủ, đồng thời giúp Lào và Campuchia hoàn
thành sự nghiệp giải phóng dân tộc. Bộ Chính trị nhấn mạnh: Ngoài thời cơ này
không có thời cơ nào khác.
Với tinh thần
kiên quyết chớp thời cơ, Bộ Chính trị xác định quyết tâm động viên những nỗ lực
cao nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ở cả hai miền, mở cuộc tổng tiến
công và nổi dậy cuối cùng, đưa chiến tranh cách mạng phát triển đến mức cao
nhất, tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ quân đội Việt Nam Cộng hoà, đánh chiếm
Sài Gòn, sào huyệt trung tâm của đối phương cũng như tất cả các thành thị khác,
đánh đổ chính quyền Việt Nam Cộng hoà ở Trung ương và các cấp, giành toàn bộ
chính quyền về tay nhân dân, giải phóng hoàn toàn miền Nam, hoàn thành cách
mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, tiến tới thống nhất đất nước"
(17). Bộ Chính trị chỉ rõ: ngay từ thời điểm này phải tiến hành mọi công việc
chuẩn bị thật khẩn trương, tạo điều kiện và cơ sở vật chất đầy đủ nhất để đánh
mạnh, đánh nhanh, thắng gọn và thắng triệt để trong hai năm 1975-1976.
Trong cuốn
“Cuộc chiến tranh thực sự”, cựu Tổng thống R. Níchxơn thừa nhận: Vào mùa Xuân
năm 1975, đối phương đã nhạy bén chớp thời cơ, đẩy tới cuộc tiến công chiến
lược, giành thắng lợi cuối cùng. Nói theo cách nói của Bắc Việt, họ đã vận dụng
thành công nghệ thuật chỉ đạo chiến lược giai đoạn cuối chiến tranh, với quyết
tâm giành thắng lợi trọn vẹn, kết thúc giai đoạn lịch sử đánh cho nguỵ nhào.
Để tiến lên
dùng chiến tranh cách mạng xoá bỏ công cụ thực dân mới của đế quốc Mỹ, ba vấn
đề cấp bách cũ (ngừng bắn, thực hiện các quyền tự do dân chủ và thả tù chính
trị) không còn thích hợp nữa, cần phải rút bỏ. Ngày 8-10-1974, Chính phủ cách
mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam ra tuyên bố về tình hình miền Nam Việt
Nam và nêu hai vấn đề cấp bách mới:
1. Chính phủ
Hoa Kỳ chấm dứt hoàn toàn và triệt để mọi dính líu quân sự và can thiệp vào
công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam.
2. Đánh đổ
Nguyễn Văn Thiệu và phe cánh, trở ngại chính cho việc giải quyết các vấn đề
chính trị ở miền Nam Việt Nam, thành lập ở Sài Gòn một chính quyền tán thành
hòa bình, hoà hợp dân tộc, nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định Pari về Việt Nam.
Mũi nhọn của cuộc đấu tranh không
chỉ nhằm vào cá nhân Nguyễn văn Thiệu như trước, mà nhằm vào toàn bộ tập đoàn
Nguyễn Văn Thiệu. Bản Tuyên bố trên đánh dấu một bước tiến mới trong cuộc đấu
tranh cách mạng ở miền Nam . Đó là một đòn tiến công ngoại giao sắc bén, ngăn
chặn khả năng Mỹ thay Nguyễn Văn Thiệu và yêu cầu ngừng bắn để tháo gỡ tình
thế.
Từ ngày
8-12-1974 đến ngày 7-1-1975, Bộ Chính trị họp đợt hai, tiếp tục bổ sung và hoàn
chỉnh quyết tâm chiến lược giải phóng hoàn toàn miền Nam. Cuộc họp sắp kết thúc
thì các lực lượng vũ trang cách mạng giải phóng thị xã Phước Long và toàn tỉnh
Phước Long (6-1-1975), nhưng Mỹ và quân đội Việt Nam Cộng hoà không có phản ứng
gì (19). Trận trinh sát chiến lược Phước Long cho thấy khả năng đối phó rất hạn
chế của Mỹ và sự suy yếu của quân đội Việt Nam Cộng hoà. Bộ Chính trị đi sâu
phân tích so sánh lực lượng trên chiến trường, khẳng định “thế của địch ngày
càng xấu, lực của địch ngày càng suy”, và quyết định “phải gấp rút chuẩn bị mọi
mặt để kết thúc thắng lợi cuộc chiến tranh cứu nước trong năm 1975 hoặc năm
1976”, và nêu rõ “phải cố gắng cao nhất để thắng gọn trong năm 1975. Điều đó là
một khả năng hiện thực”. Để đảm bảo thắng lợi, phải làm hết sức mình để tăng
cường lực lượng, đảm bảo đầy đủ về nhu cầu vật chất, kỹ thuật cho chiến trường;
làm thật tốt công tác chính trị, tư tưởng trong quân đội, trong nhân dân, động
viên toàn quân, toàn dân nêu cao ý chí “tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh
thắng”; sử dụng khôn khéo vũ khí đấu tranh ngoại giao, góp phần giương cao ngọn
cờ hòa bình, độc lập, hoà hợp dân tộc nhằm cô lập những thế lực phản động,
ngoan cố; làm sáng tỏ chính nghĩa của nhân dân Việt Nam, tranh thủ sự ủng hộ
của các lực lượng cách mạng và nhân dân tiến bộ trên thế giới; ngăn chặn âm mưu
và thủ đoạn can thiệp, phá hoại của đế quốc Mỹ và phản động quốc tế.
Bộ Chính trị
chỉ rõ: “Trận quyết chiến chiến lược này là một sự nghiệp trọng đại. Nó sẽ đưa
cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta đến thắng lợi hoàn toàn, góp
phần làm thay đổi cục diện ở Đông Dương, Đông Nam Á, mở ra bước phát triển mới
trong phong trào cách mạng của nhân dân thế giới. Đảng ta quyết làm tròn sứ
mệnh lịch sử vẻ vang đối với dân tộc và nghĩa vụ quốc tế cao cả... Chúng ta
nhất định thắng" (20).
Mùa Xuân năm 1975, theo sự chỉ đạo chặt chẽ của Bộ Chính trị
và Quân ủy Trung ương, các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam tập trung thực
hiện quyết tâm chiến lược giải phóng hoàn toàn miền Nam, mở đầu bằng đòn tiến
công chiến lược trên chiến trường Tây Nguyên. Quân đội Việt Nam Cộng hoà tháo
chạy hoảng loạn. Hoa Kỳ hoàn toàn bó tay. Sau này, R. Níchxơn viết: “Ngày 11-3
(1975) chính vào ngày Buôn Ma Thuột thất thủ, Hạ nghị viên Hoa Kỳ từ chối không
chịu cấp một ngân khoản viện trợ quân sự bổ sung 300 triệu đôla mà Tổng thống
Pho đã đề nghị. Cùng với những hạn chế về ngân khoản trước, quyết định này làm
lung lay tinh thần của Nam Việt Nam và cũng làm cho họ không còn phương tiện để
tự vệ. Họ thiếu hụt dụng cụ quân sự một cách trầm trọng và phải phụ thuộc vào
Hoa Kỳ về mặt đó. Trái lại những biện pháp này gây tâm lý phấn khởi lớn lao cho
miền Bắc. Hà Nội đưa tất cả quân đội còn lại của họ vào trận…”.
Trong khi
chiến dịch Tây Nguyên đang tiếp diễn, Bộ Chính trị nhận định cuộc tiến công
chiến lược trên chiến trường Tây Nguyên đã phát triển thành tổng tiến công
chiến lược. Chưa bao giờ quân đội và nhân dân Việt Nam có đầy đủ điều kiện và
thời cơ to lớn như lúc này. Thời cơ chiến lược đã chín muồi. Đó là lúc thế và
lực của cách mạng đã được chuẩn bị đầy đủ để đánh đòn quyết định cuối cùng; là
lúc chính quyền của Tổng thống G. Pho bị Quốc hội Mỹ khước từ mọi yêu cầu viện
trợ cho Việt Nam Cộng hoà, ngăn cấm mọi dính líu quân sự vào miền Nam Việt Nam;
là lúc bộ máy điều hành chiến tranh của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu lâm vào
cảnh hỗn loạn về chính trị, bế tắc về quân sự và liên tiếp phạm những sai lầm
về chỉ đạo chiến lược. Ngày 18-3-1975, theo đề nghị của Đại tướng Võ Nguyên
Giáp, Bộ Chính trị quyết định hoàn thành kế hoạch 2 năm giải phóng miền Nam
trong năm 1975.
Bộ Chính trị
chỉ đạo hai đòn tiến công chiến lược trên các chiến trường Huế - Đà Nẵng và Sài
Gòn - Gia Định. Phương châm thần tốc, táo bạo, bất ngờ không chỉ có ý nghĩa về
mặt quân sự nhằm tranh thủ thời cơ thuận lợi, mà về mặt đối ngoại, việc thực
hiện phương châm này có tác dụng ngăn chặn triệt để khả năng can thiệp bằng mọi
biện pháp từ bên ngoài trong bối cảnh quốc tế phức tạp lúc bấy giờ.
Ngày
21-4-1975, khi các binh đoàn chủ lực của Quân đội nhân dân Việt Nam đã tập
trung tới mức áp đảo, hình thành thế bao vây và ngày càng xiết chặt quanh Sài
Gòn, Mỹ ép Nguyễn Văn Thiệu từ chức, đưa Trần Văn Hương lên thay, đề nghị ngừng
bắn và thương lượng. Ngày 22-4-1975, Tổng thống Pháp kêu gọi các bên ở Việt Nam
ngừng bắn, mở rộng các cuộc thương thuyết để chấm dứt chiến tranh.
Ngày
26-4-1975, Chính phủ cách mạng Lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam ra tuyên bố,
vạch rõ âm mưu của Mỹ muốn duy trì một chính quyền Nguyễn Văn Thiệu không có
Thiệu, đòi phảixoá bỏ chính quyền Việt Nam Cộng hoà, công cụ của chủ nghĩa thực
dân mới, xoá bỏ bộ máy chiến tranh, bộ máy kìm kẹp và đàn áp nhân dân ở miền
Nam. (Như vây, yêu cầu đấu tranh được nâng lên mức cao hơn, không phải chỉ xoá
bỏ tập đoàn Nguyễn Văn Thiệu như trước, mà là xoá bỏ toàn bộ chính quyền Việt
Nam Cộng hoà). Bản tuyên bố kêu gọi nhân dân và chính phủ các nước yêu chuộng
hòa bình và công lý trên thế giới, kể cả nhân dân Hoa Kỳ, hãy ủng hộ mạnh mẽ
hơn nữa sự nghiệp chính nghĩa của nhân dân miền Nam Việt Nam. Cùng ngày, các
binh đoàn chủ lực của Việt Nam bắt đầu vượt qua các tuyến phòng thủ vòng ngoài
để tiến vào nội đô Sài Gòn, chính quyền và quân đội Việt Nam Cộng hoà lâm vào
nguy kịch.
Tối ngày
27-4-1975, Dương Văn Minh được đưa ra thay cho Trần Văn Hương với yêu cầu hòa
bình thương lượng. Nhưng đã quá muộn. Mọi nỗ lực cứu vãn chế độ chính trị Sài
Gòn đều không có khả năng và không còn thích hợp nữa. Quân đội và nhân dân Việt
Nam kiên quyết “đánh cho ngụy nhào”, tiêu diệt những hy vọng cuối cùng của
những thế lực muốn giữ chính quyền Việt Nam Cộng hoà để vớt vát quyền lợi
Trong tình thế tuyệt vọng, 10 giờ 15
phút ngày 30-4-1975, Dương Văn Minh thông báo cho quân đội Sài Gòn ngừng bắn và
đồng thời cũng muốn phía cách mạng làm như vậy để chuyển giao chính quyền có
trật tự. Theo nhà sử học Mỹ Gabriel Kolko thì đó là “một cuộc đầu hàng, nhưng
chắc chắn không phải là đầu hàng không có điều kiện”. Thực hiện chỉ thị của Bộ
Chính trị và Quân uỷ Trung ương, các lực lượng vũ trang cách mạng tiếp
tục tiến quân theo kế hoạch “với khí thế hùng mạnh nhất, giải phóng và chiếm
lĩnh toàn bộ thành phố, tước vũ khí quân đội địch, giải tán chính quyền các cấp
của địch, đập tan triệt để mọi sự chống cự của chúng".
Tuy nhiên,
khi các binh đoàn chủ lực của Quân đội nhân dân Việt Nam đã khoá chặt mọi cửa
ngõ ra vào Sài Gòn, trong hai ngày 28 và 29-4-1975, bầu trời Sài Gòn được bỏ
ngỏ để Mỹ có thể dùng máy bay trực thăng chở nốt những người “di tản” và những
người Mỹ còn sót lại ở Sài Gòn mà không bị tiến công.
Thực hiện sự
chỉ đạo chiến lược sắc bén, linh hoạt và kiên quyết của Đảng, quân đội và nhân
dân Việt Nam đã phối hợp chặt chẽ cuộc đấu tranh trên ba mặt trận quân sự,
chính trị và ngoại giao; từng bước phân hoá, cô lập kẻ thù, kết hợp với tổng
tiến công và nổi dậy, làm tan ra quân đội và chính quyền Việt Nam Cộng hoà,
quét sạch cơ đồ thực dân mới của đế quốc Mỹ, rửa sạch nỗi nhục mất nước, thu
non sông về một mối, mở ra kỷ nguyên cả nước độc lập, thống nhất và đi lên chủ
nghĩa xã hội.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét