CHIẾN DỊCH HUẾ - ĐÀ
NẴNG (TỪ 21- 29.3.1975)
Bàn Luận
Ngày 18-3, trong lúc chiến dịch Tây Nguyên đang diễn ra và giành được
thắng lợi to lớn, Bộ Chính trị Trung ương Đảng họp và hạ quyết tâm giải phóng
miền Nam trong năm 1975, không chờ đến năm 1976 .
Để thực hiện quyết tâm ấy, theo đề nghị của Quân uỷ Trung ương, hướng
chiến lược chủ yếu là Sài Gòn. Trước mắt, Trị - Thiên - Đà Nẵng là hướng chiến
lược quan trọng. Phương châm chiến dịch là Táo bạo, bất ngờ, kịp thời, chắc
thắng.
Phối hợp với Tây Nguyên, tại Mặt trận Trị - Thiên - Huế, quân ta cũng đẩy
mạnh các hoạt động phối hợp. Từ ngày 5-3 đến 20-3, Quân khu V và Quân khu Trị -
Thiên - Huế đã làm tan rã một bộ phận quan trọng lực lượng địch ở vùng giáp
ranh và đồng bằng, giải phóng phần còn lại của tỉnh Quảng
Trị (19-3) và các quận lị Tiên Phước, Phước Lâm, Sơn Trà, Trà
Bồng thuộc Quảng Đà - Nam Quảng Ngãi, tạo thành thế uy hiếp Huế - Đà Nẵng.
Từ ngày 21 đến ngày 26-3, quân ta tiến công chia cắt Huế với Đà Nẵng,
tiêu diệt Sư đoàn bộ binh số 1 , liên đoàn biệt động quân..., giải phóng thành phố Huế (25-3)
và toàn bộ tỉnh Thừa Thiên (26-3). Cùng thời gian này, quân ta tiến vào giải
phóng thị xã Tam Kì (24-3), Quảng Ngãi (25-3), Chu Lai (26-3), tạo thành thế uy
hiếp Đà Nẵng từ phía Nam.
Sau khi đánh chiếm thị xã Tam Kì và thành phố Huế,
các cánh quân của ta từ Thừa Thiên và Quảng Nam nhanh chóng cơ động, thần tốc,
táo bạo, đồng loạt tiến công, phá vỡ tuyến phòng thủ vòng ngoài của địch.
Đà Nẵng, thành phố lớn thứ hai ở miền Nam, nhưng lại là căn cứ quân sự
liên hợp lớn nhất của Mĩ - ngụy, rơi vào thế cô lập. Hơn 10 vạn quân ngụy thất
trận từ các nơi dồn về trong thành phố trở nên hỗn loạn, không còn khả năng
chiến đấu.
Sáng 29-3, từ các hướng, quân ta đồng loạt tiến công vào thành phố. Buổi
chiều cùng ngày, quân ta đánh chiếm toàn bộ các mục tiêu quan trọng trong thành phố Đà
Nẵng và bán đảo Sơn Trà. Kết hợp với đòn tiến công quân sự, lực
lượng địa phương nổi dậy diệt ác phá thế kìm kẹp, giải phóng hoàn toàn Đà Nẵng
vào lúc 17 giờ ngày 29-3-1975.
Cùng thời gian với chiến dịch Tây Nguyên và Huế - Đà Nẵng, từ cuối tháng
3 dầu tháng 4-1975, quân và dân các tỉnh còn lại ở ven biển miền Trung, Nam Tây
Nguyên và ở một số tỉnh thuộc Nam Bộ cũng nổi dậy giành quyền làm chủ. Từ ngày
14 đến 29-4, các đảo thuộc quần đảo Trường Sa (do quân ngụy Sài Gòn chốt giữ)
lần lượt được giải phóng.
Tiếp theo chiến thắng Tây Nguyên, chiến thắng Huế - Đà Nẵng đã góp phần
làm thay đổi hẳn so sánh về thế và lực giữa ta và địch. Lực lượng giảm xuống
còn một nửa (từ 4 quân đoàn chủ lực, chỉ còn lại 2 quân đoàn: III và IV). Ngược
lại, lực lượng cách mạng miền Nam được giữ vững và bổ sung, được trang bị đầy
đủ, hoàn toàn cơ động và có dự trữ dồi dào.
Ngày 25-3-1975, Bộ Chính trị Trung ương Đảng triệu tập một phiên họp lịch
sử. Bộ Chính trị khẳng định: "Cuộc tiến công chiến lược của ta bắt đầu với
chiến dịch Tây Nguyên. Thời cơ chiến lược mới đã đến, ta có điều kiện hoàn
thành sớm quyết tâm giải phóng miền Nam" 1. Do đó, phải "Tập trung
nhanh nhất lực lượng, binh khí, kĩ thuật và vật chất giải phóng miền Nam trước
mùa mưa" 2. cùng ngày, Bộ Chính trị quyết định thành lập Hội đồng chi viện
miền Nam ở Trung ương, do Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng làm
Chủ tịch và Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Thanh Nghị làm
Phó Chủ tịch. Ngày 31-3-1975, Bộ Chính trị họp, nêu rõ: "Cuộc chiến tranh
cách mạng ở miền Nam không những đã bước vào giai đoạn phát triển nhảy vọt mà
thời cơ chiến lược để tiến hành tổng công kích, tổng khởi nghĩa vào sào huyệt
của địch đã chín muồi. Từ giờ phút này, trận quyết chiến chiến lược cuối cùng
của quân và dân ta đã bắt đầu, nhằm hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân
dân ở miền Nam và thực hiện thống nhất Tổ quốc".
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét