NÉT
ĐỘC ĐÁO, ĐẶC SẮC NHẤT CỦA
NGHỆ
THUẬT QUÂN SỰ VIỆT NAM
TRONG
CHIẾN DỊCH HỒ CHÍ MINH
Hoa
Súng
Nghệ
thuật tổ chức lực lượng toàn dân đánh giặc; nghệ thuật tác chiến chiến lược; tạo
lập thế trận tác chiến chiến lược để giành thắng lợi quyết định là những nét độc
đáo, đặc sắc nhất của nghệ thuật quân sự Việt Nam trong Chiến dịch Hồ Chí Minh
lịch sử mùa Xuân 1975.
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ IV (12-1976) của Đảng đã khẳng định: “Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng
thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mãi
mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất,
một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và
trí tuệ con người, đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ
XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc”.
Có được thắng lợi này, một trong những
nguyên nhân, đồng thời cũng là nét độc đáo, đặc sắc nhất của nghệ thuật quân sự
Việt Nam trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử mùa Xuân 1975. Từ thực tiễn cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ
đại của dân tộc, chúng ta có thể rút ra một số vấn đề cơ bản của nghệ thuật
quân sự Việt Nam là:
Thứ nhất, về nghệ thuật tổ chức
lực lượng toàn dân đánh giặc.
Nghệ thuật nghệ thuật quân sự của ta
là nghệ thuật tổ chức toàn dân đánh giặc. Nó khác hẳn với nghệ thuật quân sự
của kẻ xâm lược-nghệ thuật tổ chức lực lượng quân sự nhà nghề với những cỗ máy
chiến tranh khổng lồ, chuyên nghiệp.
Đối tượng của nghệ thuật tổ chức, sử
dụng lực lượng của ta là toàn dân. Ta tổ chức lực lượng theo cấu trúc toàn dân
đánh giặc; bao gồm lực lượng vũ trang ba thứ quân gắn liền với lực lượng kháng
chiến của từng huyện, tỉnh, thành phố; kết hợp chặt chẽ với bộ đội chủ lực. Đó
là nghệ thuật tổ chức có tính khoa học, tính thống nhất và chặt chẽ, làm cho
toàn dân ta triệu người như một, tạo sức mạnh tổng hợp lớn nhất để đánh địch,
thắng địch. Đi đôi với nghệ thuật tổ chức lực lượng, ta xác định hai hình thức
đấu tranh chủ yếu: đấu tranh quân sự kết hợp đấu tranh chính trị; hai phương
thức tác chiến cơ bản: tác chiến tập trung và tác chiến du kích. Với nghệ thuật
tổ chức và vận dụng các hình thức, phương thức tác chiến như thế, ta đã xây
dựng được thế trận chiến tranh nhân dân “thiên la địa võng”, rộng khắp, vững
chắc, nhưng mạnh ở trọng điểm. Điều đó lý giải vì sao ta có thể "Mở mặt trận ở bất cứ nơi nào có bóng địch, đánh ngay ở cả
sau lưng địch, trong trung tâm phòng ngự của địch" và “Kéo địch ra khỏi hang ổ mà đánh, căng địch ra mà đánh, luồn sâu
vào hậu phương địch mà đánh...". Trong cuộc Tổng
tiến công và nổi dậy mùa xuâ năm 1975, bảo đảm cho ta luôn đánh địch ở thế chủ
động, càng đánh càng mạnh. Ngược lại, địch luôn ở thế bị động, càng đánh càng
bộc lộ sơ hở, càng đánh càng bị dồn vào nguy cơ thất bại. Trong chiến dịch Hồ
Chí Minh lịch sử nhờ nghệ thuật tổ chức toàn dân đánh giặc mà ta vừa có điều
kiện tập trung đánh lớn ở các thành phố lớn, tiêu diệt và bắt sống hàng nghìn
tên địch; đồng thời, vừa có điều kiện đánh địch rộng khắp, loại khỏi vòng chiến
đấu hàng trăm nghìn tên địch ở các chiến trường khác. Nhờ nghệ thuật tổ chức
toàn dân đánh giặc, ta đã kết thành lưới lửa của thế trận chiến tranh nhân dân,
diệt hàng nghìn máy bay, tàu chiến, đánh bại hoàn toàn ý chí xâm lược của
đế quốc Mỹ, khiến Mỹ -ngụy từng bước rơi vào cơn khốn quẫn và kết cục thất bại
cả về quân sự và chính trị. Như vậy, có thể nói, đây là nét độc đáo và đặc
sắc nhất của nghệ thuật tổ chức toàn dân đánh giặc của ta đã đánh thắng
chiến tranh xâm lược bằng lực lượng quân đội nhà nghề của địch.
Thứ hai, nét độc đáo của nghệ
thuật tác chiến chiến lược.
Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử
mùa Xuân 1975, ta tiến hành 3 chiến dịch lớn với 3 đòn chiến lược: Chiến dịch
Tây Nguyên. Chiến dịch chiến lược Huế- Đà Nẵng và Chiến dịch quyết chiến chiến
lược Hồ Chí Minh. Ba đòn chiến lược đó thể hiện được phương thức nghệ thuật tác
chiến chiến lược hay của ta. Xuất hiện từ đường lối chiến tranh nhân dân toàn
dân, toàn diện, với hai lực lượng, ba thứ quân, tác chiến cài xen kẽ với địch
không phân tuyến của ta, làm cho địch bị phân tán, chia cắt, bị động; còn ta
thì chủ động tập trung lực lượng, cơ động linh hoạt.
Trên cơ sở của đường lối chiến tranh
đó, nghệ thuật tác chiến chiến lược của ta là nghệ thuật của chiến tranh nhân
dân, là kết hợp chặt chẽ giữa chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy,
giữa quân sự với chính trị; tiến hành tác chiến trên toàn bộ chiến trường; đánh
địch trên toàn bộ chiến tuyến, đánh cả ở phía trước mặt địch và đằng sau lưng
địch, trên cả 3 vùng chiến lược.
Tiến công chiến lược là phải phá vỡ
chiến lược, tiêu diệt lực lượng tiến công chiến lược của địch, giải phóng những
vùng đất đai quan trọng, đánh bại biện pháp chiến lược của địch, làm suy sụp ý
chí chiến đấu của chúng, làm lung lay quyết tâm chiến lược của địch. Tổng tiến
công chiến lược là phá vỡ nhiều mảng chiến lược của địch, đi đến phá vỡ toàn bộ
chiến lược của địch, tiêu diệt các lực lượng chiến lược chủ yếu của chúng, giải
phóng phần lớn lãnh thổ, đánh chiếm thủ đô, sảo huyệt cuối cùng của địch, đánh
bại mọi biện pháp thủ đoạn chiến lược của địch, làm mất ý chí đề kháng của
địch, đi đến kết thúc chiến tranh.
Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử
mùa Xuân năm 1975, ta đã bố trí được 2 Tập đoàn chiến lược ở 2 đầu chiến tuyến,
và 1 Tập đoàn chiến dịch ở quãng giữa chiến tuyến. Tập đoàn chiến lược thứ nhất
gồm quân đoàn 2 cùng các sư đoàn, trung đoàn và lực lượng vũ trang địa phương
của 2 quân khu Trị- Thiên và quân khu ở vùng Huế- Đà Nẵng. Tập đoàn chiến lược
thứ 3 vũ trang địa phương của Quân khu 7 đứng chân ở chung quanh Sài Gòn. Tập
đoàn chiến lược thứ 3, gồm 2 sư đoàn và các trung đoàn của mặt trận Tây Nguyên
cùng sư đoàn 3 Sao Vàng của Quân khu 5 và các lực lượng vũ trang địa phương của
các tỉnh Tây Nguyên và Bình Định, Phú Yên, Nha Trang đứng chân ở địa bàn Tây
Nguyên.
Tuy vậy, ta cũng chưa có đủ khả năng
sử dụng phương pháp tiến công chiến lược đồng thời trên toàn bộ chiến tuyến của
địch, mà mới nhằm vào điểm yếu sơ hở, bất ngờ, tiến công phá vỡ chiến lược ở
Tây Nguyên, còn các chiến trường khác chỉ đánh nhỏ để phối hợp, bảo đảm cho Tây
Nguyên dành thắng lợi.
Cuộc Tổng tiến công phát triển thật
mạnh mẽ. Từ cuối tháng 2, đầu tháng 3 năm 1975 ta tiến hành tác chiến nghi binh
tạo thế trên chiến trường Tây Nguyên và trên khắp cả chiến trường, tạo thuận
lợi cho trận đánh Buôn Ma Thuột. Được thế lợi đó, trận đánh Buôn Ma Thuột bắt
đầu từ 2 giờ sáng ngày 10-3, đến trưa 11-3-1975 dành thắng lợi giòn rã, giải
phóng hoàn toàn thị xã Buôn Ma Thuột. Nhịp độ tiến công rất nhanh, mạnh. Ngày
29-3-1975 ta giải phóng Đà Nẵng, đến ngày 3-4-1975, ta đã giải phóng Cam Ranh.
Một vùng chiến lược đặc biệt quan trọng được giải phóng từ Tây Nguyên, Quảng
Trị, Huế, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Nha Trang, Cam Ranh, Lâm
Đồng v.v… và tiêu diệt 2 quân khu- quân đoàn của địch là Quân khu 1 và quân khu
2.
Thứ ba, về tạo lập thế trận tác
chiến chiến lược để giành thắng lợi quyết định.
Trong giai đoạn Tổng tiến công chiến
lược, ta tổ chức từ 2 Tập đoàn quân chiến lược trở lên là rất cần thiết để tạo
lập và chuyển hoá thế trận tác chiến chiến lược đẩy mạnh nhịp độ tiến công với
tốc độ cao và làm cho kẻ địch khó có bề chống cự rồi bị đánh bại nhanh chóng.
Tạo lập thế trận tác chiến chiến lược phải theo quyết tâm đánh vào đâu trước,
hướng tiến công chủ yếu và mục tiêu chủ yếu đánh vào đâu? Các hướng tiến công
khác ở đâu để phối hợp? Và các bước tiếp theo đánh vào vị trí chiến lược nào để
phát triển nghệ thuật quân sự trong tác chiến chiến địch, rồi từ mưu kế mà
chuyển hoá thế trận. Tạo lập thế trận thế linh hoạt, hợp lý có lợi để thực hiện
thắng lợi mưu kế và quyết tâm.
Nét độc đáo trong tạo lập thế trận của
ta là thế trận của chiến tranh nhân dân đã được xây dựng từ đầu cuộc chiến
tranh. Ta tiến công địch bằng 2 lực lượng, 3 thứ quân, trên cả 3 vùng chiến
lược và tác chiến cài xen kẽ với địch trên toàn bộ chiến tuyến. Do chiến tranh
nhân dân phát triển cao, nên các binh đoàn chủ lực của ta đã đứng chân ở phía
nam vĩ tuyến 17, lập thế tiến công ở phía tây chiến tuyến của địch từ vĩ tuyến
17 đến Sài Gòn, đến đồng bằng sông Cửu Long. Các binh đoàn chủ lực của ta không
tiến công địch từ phía bắc vĩ tuyến 17. Không đánh vào chiều dọc chiến tuyến
của địch có chiều sâu lớn mà từ các bàn đạp chiến tuyến của địch, chỉ cách Huế-
Đà Nẵng có ba bốn chục km ở phía tây. Thậm chí các binh đoàn chủ lực của ta
cũng có mặt sát gần ngay Sài Gòn, chỉ cách phía tây Sài Gòn khoảng 50 đến 60
km. Nếu các binh đoàn chủ lực của ta phát động cuộc tiến công từ phía bắc vĩ
tuyến 17, đánh theo dọc chiến tuyến có độ dày lớn của địch từ Quảng Trị đến
Huế, Đà Nẵng, Nha Trang thì đến bao giờ ta mới đánh tới Sài Gòn- tuy là có mũi
vu hồi chiến dịch và chiến lược.
Thế trận chiến lược trong Chiến dịch
Hồ Chí Minh lịch sử mùa Xuân năm 1975 là một thế trận triển khai từ Quảng Trị
qua Tây Nguyên đến Sài Gòn và đồng bằng Nam Bộ. Một thế trận không đánh từ phía
Bắc, từ Quảng Trị qua Huế, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Quy Nhơn, Tây Nguyên, đánh
thẳng vào trận tuyến của địch trên đường số 1 rồi cùng với Tập đoàn chiến lược
phía nam đã đứng chân sẵn ở phía bắc Sài Gòn, tập trung một lực lượng lớn giáng
một đòn sấm sét vào Sài Gòn, giải phóng nhanh gọn Sài Gòn.
Tạo lập thế trận tác chiến chiến lược
như thế, ta đồng thời đánh trên toàn tuyến Quảng Trị, Huế, Đà Nẵng, Quảng Ngãi,
Quy Nhơn và phía bắc, phía tây Sài gòn, làm cho địch lúng túng, bị động phải
phân tán đối phó theo cách của ta, rồi ta tập trung lực lượng đánh đòn
chiến lược thứ nhất giải phóng Tây Nguyên và đánh đòn thứ 2 gối đầu ngay, giải
phóng Huế, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Quy Nhơn, rồi phát triển thắng lợi giải phóng
Tuy Hòa, Phú Yên, Nha Trang, Cam Ranh. Trên đà thắng lợi đó, ta dồn tất cả lực
lượng, cả Quân đoàn tổng dự bị chiến lược và lực lượng ở đồng bằng sông Cửu
Long, cùng Tập đoàn chiến lược phía nam đã đứng chân sẵn ở ngoại vi Sài Gòn,
thực hành đòn chiến lược thứ 3 then chốt quyết định, giải phóng Sài Gòn một
cách nhanh gọn.
Nghệ thuật tạo lập thế
trận tác chiến chiến lược mùa Xuân 1975 là một nghệ thuật độc đáo, tài tình và
cũng đầy sáng tạo của chiến tranh nhân dân Việt Nam, ít thấy trong chiến tranh.
Do đó, chỉ trong 56 ngày đêm ta đã giải giải phóng được miền Nam một cách ít tổn
thất, thương vong. Đây là nét độc đáo, sáng tạo nhất của nghệ thuật quân sự Việt
Nam được phát triển cao trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử mùa Xuân năm 1975,
giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc, những vấn đề nêu trên cần tiếp
tục được nghiên cứu toàn diện, vận dụng vào thực tiễn trong chiến tranh BVTQ
tương lai./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét