CHỈ
ĐẠO KIÊN QUYẾT, LINH HOẠT, SÁNG TẠO
TRONG
GIẢI PHÓNG HOÀN TOÀN MIỀN NAM,
THỐNG
NHẤT ĐẤT NƯỚC
Trung
Lập
Thực hiện
kế hoạch tác chiến chiến lược đã đề ra, sau một quá trình chuẩn bị, từ ngày
4/3/1975, quân dân ta bất ngờ mở chiến dịch tiến công Tây Nguyên, đánh chiếm
mục tiêu chủ yếu (Buôn Ma Thuột) làm rung chuyển toàn bộ hệ thống phòng thủ của
địch trên chiến trường miền Nam.
Ngày
3/4/1975, chiến dịch Tây Nguyên kết thúc thắng lợi. Ta tiêu diệt và làm tan rã
Quân đoàn 2-Quân khu 2 của chính quyền Sài Gòn, giải phóng Tây Nguyên cùng một
số tỉnh ven biển Trung Trung Bộ, làm thay đổi cơ bản so sánh lực lượng, thế
chiến lược giữa ta và địch, tạo bước ngoặt quyết định, đưa cuộc tiến công chiến
lược của ta phát triển thành tổng tiến công trên toàn miền Nam.
Thắng lợi
bước đầu của chiến dịch Tây Nguyên, đặc biệt là trận then chốt giải phóng thị
xã Buôn Ma Thuột (10/3/1975) và thông tin địch rút toàn bộ lực lượng khỏi Tây
Nguyên đã mở ra khả năng thắng lớn của cách mạng.
Nhận thấy
thời cơ chiến lược đến nhanh hết sức thuận lợi, ngày 18/3/1975, Bộ Chính trị
họp bàn, bổ sung vào quyết tâm chiến lược: thực hiện phương án tranh thủ thời
cơ, giải phóng hoàn toàn miền Nam ngay trong năm 1975. Kế hoạch hai năm được
rút xuống còn một năm. Bộ Chính trị nhấn mạnh: Muốn hoàn thành nhiệm vụ cơ bản
đó, nhiệm vụ trước mắt của quân và dân ta là mở đòn tiến công chiến lược thứ
hai nhằm giải phóng Huế-Đà Nẵng và các tỉnh ven biển miền Trung.
Thực hiện
quyết tâm của Bộ Chính trị đề ra, quân dân ta đẩy mạnh tiến công địch ở Trị -
Thiên, các tỉnh đồng bằng ven biển Khu 5, gây áp lực mạnh buộc địch phải thu
dồn lực lượng về giữ các thành phố lớn là Huế, Đà Nẵng. Tranh thủ thời cơ địch
co cụm, các binh đoàn chủ lực của ta phối hợp chặt chẽ với lực lượng vũ trang
cùng nhân dân địa phương nhanh chóng mở các đợt tiến công giải phóng nhiều vùng
nông thôn rộng lớn; đồng thời tổ chức các mũi thọc sâu chia cắt địch, chặn
đường rút chạy của chúng, hình thành thế bao vây địch trong thành phố.
Ngày
25/3/1975, trong khi chiến trường đang diễn biến sôi động, bước vào thời điểm
khẩn trương và quyết định, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương đã họp bàn khẳng
định: “Cuộc tổng tiến công chiến lược của ta đã bắt đầu với chiến dịch Tây
Nguyên. Thời cơ chiến lược mới đã đến, ta có điều kiện hoàn thành sớm quyết tâm
giải phóng miền Nam," từ đó đề ra chủ trương: tập trung nhanh nhất binh
lực, vật lực giải phóng miền Nam trước mùa mưa (khoảng giữa tháng 5/1975). Kế
hoạch một năm tiếp tục được rút xuống còn 5 tháng.
Bộ Chính
trị hạ quyết tâm mở chiến dịch lịch sử có ý nghĩa quyết định với quy mô lớn
nhất: Chiến dịch tổng công kích và nổi dậy giải phóng Sài Gòn (sau được mang
tên Chiến dịch Hồ Chí Minh). Nhưng muốn đi đến đòn quyết chiến chiến lược ấy,
Bộ Chính trị chỉ đạo: dứt điểm giải phóng Thừa Thiên-Huế; đồng thời tiến công
Đà Nẵng kịp thời nhất, nhanh chóng nhất, táo bạo nhất, bất ngờ nhất và chắc
thắng.
Chấp hành
mệnh lệnh của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, tranh thủ địch đang hoang
mang dao động, các cánh quân chủ lực của ta đồng loạt tiến công, chỉ trong thời
gian ngắn đập tan mọi tuyến phòng thủ của địch, giải phóng Huế (26/3/1975),
giải phóng Đà Nẵng (29/3) cùng các tỉnh ven biển miền Trung.
Ta đã tiêu
diệt, làm tan rã toàn bộ lực lượng Quân đoàn 1-Quân khu 1 của địch, giáng đòn
nặng nề vào chính quyền, quân đội Sài Gòn cũng như kế hoạch kéo dài chiến tranh
của Mỹ; mở ra vùng hậu phương chiến lược hoàn chỉnh nối liền với miền Bắc xã
hội chủ nghĩa, tạo điều kiện thuận lợi cho cách mạng dễ dàng cơ động lực lượng,
binh khí kỹ thuật phục vụ cho tác chiến quy mô lớn hơn. Thắng lợi này hợp cùng
với thắng lợi Tây Nguyên đã làm thay đổi căn bản so sánh lực lượng giữa ta và
địch, tạo bước phát triển nhảy vọt về cục diện chiến tranh hoàn toàn có lợi cho
cách mạng.
Căn cứ vào
những chuyển biến hết sức mau lẹ từ chiến trường, ngày 31/3/1975, Bộ Chính trị
họp bàn, ra quyết định lịch sử: “Nắm vững thời cơ chiến lược, quyết tâm thực
hiện tổng tiến công và nổi dậy, kết thúc thắng lợi chiến tranh giải phóng trong
thời gian ngắn nhất. Tốt hơn cả là bắt đầu và kết thúc trong tháng tư năm nay,
không để chậm." Kế hoạch 5 tháng tiếp tục được rút xuống còn 4 tháng. Bộ
Chính trị cũng đề ra phương châm chỉ đạo: “thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc
thắng."
Đến ngày
7/4/1975, phương châm chỉ đạo này đã được Đại tướng Võ Nguyên Giáp phát lệnh
truyền đi khắp các hướng chiến trường. Ngày 14/4/1975, thể theo nguyện vọng của
đồng bào, chiến sĩ cả nước và đề nghị của Bộ Chỉ huy chiến dịch giải phóng Sài
Gòn, Bộ Chính trị họp bàn, đồng ý chiến dịch giải phóng Sài Gòn ấy tên là Chiến
dịch Hồ Chí Minh.
Vào những
ngày tháng 4/1975, trên mọi miền đất nước, nhân dân ta ra sức chuẩn bị cho trận
quyết chiến lịch sử. Quân ta trên chiến trường ra sức tạo thế, tạo lực.
Ngày
9/4/1975, quân ta tiến công Xuân Lộc - tuyến phòng thủ trọng yếu bảo vệ Sài Gòn
từ phía đông của quân đội Sài Gòn. Ngày 16/4, quân ta đập tan tuyến phòng thủ
Phan Rang.
Ngày
21/4/1975, quân địch ở Xuân Lộc tháo chạy. Trong khi đó, địch bị tổn thất nặng
nề về lực lượng và phương tiện, tinh thần hoàng mang. Mỹ lập cầu hàng không
viện trợ khẩn cấp cho chính quyền, quân đội Sài Gòn nhằm cứu vãn sự sụp đổ hoàn
toàn, hi vọng tìm kiếm một giải pháp qua đàm phán.
Ngày
22/4/1975, Bộ Chính trị họp bàn, phát lệnh: “Thời cơ để mở cuộc tổng tiến công
về quân sự và chính trị vào Sài Gòn đã chín muồi. Ta cần tranh thủ từng ngày để
kịp thời phát động tiến công. Hành động trong lúc này là bảo đảm chắc chắn nhất
để giành thắng lợi hoàn toàn. Nếu để chậm sẽ không có lợi cả về quân sự và
chính trị."
Ngày
26/4/1975, Chiến dịch Hồ Chí Minh chính thức bắt đầu. Tất cả các cánh quân của
ta, bao gồm 4 quân đoàn (1, 2, 3, 4) và Đoàn 232 (tương đương quân đoàn) lần
lượt đập tan các tuyến phòng thủ vòng ngoài, đồng thời hình thành các mũi thọc
sâu đánh chiếm 5 mục tiêu trọng yếu trong nội đô Sài Gòn.
Trưa ngày
30/4/1975, Quân giải phóng tiến vào Dinh độc lập, bắt sống toàn bộ nội các
chính quyền Sài Gòn, buộc tổng thống Dương Văn Minh phải tuyên bố đầu hàng vô
điều kiện. Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng.
Như vậy,
trải qua gần hai tháng Tổng tiến công và nổi dậy, quân dân Việt Nam đã giành
thắng lợi trọn vẹn, giải phóng hoàn toàn miền Nam, kết thúc chặng đường 21 năm
kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đồng thời kết thúc vẻ vang quá trình 30 năm
chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc kể từ Cách mạng tháng Tám năm
1945. Chiến công hiển hách đã làm kinh ngạc làm kinh ngạc cả thế giới.
Nhìn lại
thắng lợi vang dội của 45 năm về trước, chúng ta càng nhận thức rõ ràng hơn về
nghệ thuật chỉ đạo kết thúc chiến tranh tài tình, sáng tạo của tập thể Bộ Chính
trị Đảng Lao động Việt Nam, vượt qua mọi hoạch định, toan tính chiến tranh xâm
lược của đối phương.
Quá trình
chỉ đạo chiến lược của Bộ Chính trị trong giai đoạn kết thúc chiến tranh ấy đã
để lại những bài học lịch sử lớn, quan trọng đối với công cuộc xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc hiện nay, như: kiên định mục tiêu độc lập dân và chủ nghĩa xã hội,
vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Marx-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong hoàn cảnh
mới; bám sát thực tiễn, nhận diện nắm bắt đúng thời cơ, phát huy sức mạnh nội
lực, kết hợp với tranh thủ những điều kiện khách quan thuận lợi để vượt qua khó
khăn, thực hiện thắng lợi mục tiêu cơ bản đề ra; tăng cường giữ vững vai trò
lãnh đạo của Đảng, nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ trong mọi chủ trương,
đường lối, chính sách vì lợi ích quốc gia, dân tộc; phát huy sức mạnh khối đại
đoàn kết toàn dân, xây dựng tiềm lực, thế trận quốc phòng-an ninh vững chắc,
lấy lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt...
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét