CHIẾN DỊCH TÂY NGUYÊN (TỪ
10-24.3.1975)
Bàn Luận
Tây Nguyên là một chiến trường cơ động có vị trí chiến lược hết sức quan
trọng. Từ chiến trường này, sẽ có nhiều lợi thế phát triển xuống phía nam theo
Đường số 14, hoặc phát triển sang hướng đông theo các trục Đường 19, 7 và 21. Ở
Tây Nguyên, địch có 1 sư đoàn chủ lực, 7 liên đoàn biệt động, 4 thiết đoàn xe
tăng và thiết giáp. Do đánh giá sai, phán đoán sai ý đồ của ta, chúng cho rằng
năm 1975 ta chưa đủ sức đánh thị xã và thành phố; và nếu có đánh, thì cũng đánh
ở phía Bắc Tây Nguyên. Vì vậy, địch tập trung lực lượng giữ Plâycu, Kon Tum,
còn Đắc Lắc, trong đó có thị xã Buôn Ma Thuột thì sơ hở; càng vào sâu phía
trong thị xã, lực lượng càng mỏng.
Xuất phát từ tình hình trên, ý định ban đầu của Bộ Chính trị chọn Tây
Nguyên làm chiến dịch mở đầu cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đến lúc này đã
trở thành một quyết định dứt khoát. Đánh Tây Nguyên, ta chọn Nam Tây Nguyên làm
hướng tiến cộng chiến lược chủ yếu, mục tiêu tiến công đầu tiên là Buôn Ma
Thuột; hướng phát triển tiếp theo là phía đông. Sử dụng lực lượng cũng như cách
đánh phải mạnh bạo, bí mật, bất ngờ, nghi binh tốt, hướng sự chú ý của địch vào
Bắc Tây Nguyên và Trị - Thiên.
Quán triệt tư tưởng chỉ đạo của Bộ Chính trị và Tổng Quân uỷ Trung ương,
ngày 4-3, ta tiến công tiêu diệt một số vị trí địch, cắt đứt Đường số 19 ở An
Khê, đánh nghi binh ở Plâycu, Kon Tum, để tạo thế cho chiến dịch. Buôn Ma Thuột
đã sơ hở lại càng sơ hở.
Trong lúc Quân đoàn II ngụy ra sức chuẩn bị đối phó với chủ lực ta ở Bắc
Tây Nguyên, thì vào lúc 1 giờ 55 phút ngày 10-3- 1975, quân ta tiến công vào
thị xã Buôn Ma Thuột, mở đầu giành thắng lợi hoàn toàn. Đòn tiến công giải
phóng Huế - Đà Nẵng gồm ba chiến dịch diễn ra đồng thời và kế tiếp nhau; đó là:
chiến dịch Trị - Thiên - Huế, chiến dịch Nam - Ngãi và chiến dịch Đà Nẵng.
chiến dịch Tây Nguyên, cũng là mở cửa đột phá cho cuộc Tổng tiến công
chiến lược Xuân 1975. Ngày 11-3, quân ta hoàn toàn làm chủ thị xã.
Ngày 12-3, quân ngụy tập trung lực lượng tổ chức phản công chiếm lại thị
xã Buôn Ma Thuột, nhưng đều bị quân ta đánh tan tác. Toàn bộ tuyến phòng thủ
của địch ở Tây Nguyên rung chuyển. Quân ngụy hoang mang mất tinh thần, hàng ngũ
rối loạn.
Ngày 14-3, Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút khỏi Plâycu,
Kon Tum, triển khai lực lượng tái chiếm Buôn Ma Thuột. Các đơn vị còn lại sẽ
rút về Tuy Hoà (Phú Yên). Ở đó, chúng sẽ tập hợp, củng cố lực lượng tiến hành
một chiến dịch chiếm lại Buôn Ma Thuột.
Ngày 16-3, quân ta được lệnh truy kích địch rút chạy theo Đường số 7. Mờ
sáng hôm sau, một đơn vị đã nhanh chóng băng rừng ra cắt Đường số 7, chặn địch
ở đông Phú Bổn, tiêu diệt địch và đánh xuống Củng Sơn. Ngày 24-3, quân ta tiến
vào thị xã Củng Sơn, tiêu diệt và bắt sống toàn bộ quân địch ở đây.
Một bộ phận khác phối hợp với bộ đội địa phương giải phóng các tỉnh miền
Trung.
Tây Nguyên rộng lớn gồm 5 tỉnh (Kon Tum, Gia Lai, Phú Bổn, Đặc Lắc và
Quảng Đức), với hơn 60 vạn dân được hoàn toàn giải phóng. Hệ thống bố trí chiến
lược của Mĩ - ngụy ở miền Nam đứng trước nguy cơ bị chia cắt làm đôi. Tuyến
phòng ngự của địch ở ven biển bị uy hiếp trực tiếp.
Chiến thắng Tây Nguyên đã chuyển cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước sang
giai đoạn mới: Từ cuộc tiến công chiến lược phát triển thành cuộc Tổng tiến
công chiến lược trên toàn chiến trường miền Nam.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét