KIÊN ĐỊNH MỤC TIÊU CHIẾN LƯỢC HOÀN THÀNH
SỰ NGHIỆP GIẢI PHÓNG MIỀN NAM, THỐNG NHẤT
ĐẤT NƯỚC, ĐÁNH GIÁ ĐÚNG TÌNH HÌNH, CHỦ ĐỘNG
DỰ ĐOÁN KHẢ NĂNG KẾT THÚC CHIẾN TRANH
Hoa Súng
Sau khi Hiệp
định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam được ký kết
(27-1-1973), Hoa Kỳ rút quân viễn chinh khỏi miền Nam, điều chỉnh chiến lược
đối ngoại, tạm thời hoà hoãn vơí các lực lượng xã hội chủ nghĩa, tuyên truyền
về một “kỷ nguyên hòa bình”, “kỷ nguyên thương lượng”. Dư luận nhiều nước cho
rằng cuộc chiến tranh xâm lược của Hoa Kỳ ở Việt Nam kết thúc, chỉ còn cuộc
“nội chiến” giữa những người Việt Nam với nhau. Ilya V. Gaiđuk, một một chuyên
gia nghiên cứu về quan hệ Liên Xô – Hoa Kỳ của Viện Lịch sử Thế giới Mátxcơva,
cho rằng: việc ký hiệp định Pari năm 1973 đã “chấm dứt sự dính líu trực tiếp
của Hoa Kỳ vào cuộc chiến và mở ra một giai đoạn mới của cuộc xung đột là giai
đoạn đối đầu giữa hai thế lực thù địch người Việt Nam mà không có sự can thiệp
nước ngoài”.
Trên thực tế
không phải như vậy. Hoa Kỳ tiếp tục theo đuổi chính sách thực dân mới ở miền Nam
nhằm chia cắt nước Việt Nam. Họ duy trì một lực lượng hải quân và không quân ở
Vịnh Bắc Bộ, Thái Lan và Guam, để lại ở miền Nam “những người lính không mặc
quân phục” cùng các nhân viên dân sự; đổi tên Bộ chỉ huy quân sự Mỹ (MACV)
thành cơ quan ngoại giao - tuỳ viên quốc phòng (DAO). Trước ngày ký Hiệp định
Pari, Hoa Kỳ vội vã chuyển giao các căn cứ quân sự của họ ở miềnNam cho chính
quyền Việt Nam Cộng hoà cùng với viện trợ khẩn cấp một lượng vật chất khổng lồ.
Dựa vào hậu
thuẫn của Chính phủ Hoa Kỳ, Chính quyền Việt Nam Cộng hoà phá hoại Hiệp định
Pari, nhất là các điều khoản về ngừng bắn, thực hiện các quyền tự do dân chủ và
thả tù chính trị. Họ mở chiến dịch “tràn ngập lãnh thổ”, cho quân đội tiến công
vùng giải phóng miền Nam, âm mưu xoá “thế da báo” (3); không chịu thả hết tù
chính trị bằng cách chuyển thành tù thường phạm. Nguyễn Văn Thiệu thẳng tay
loại bỏ những người không ăn cánh ra khỏi cơ cấu chính quyền, bóp nghẹt các
quyền tự do dân chủ trong vùng chính quyền Việt Nam Cộng hoà kiểm soát. Đầu
tháng 4-1973, Tổng thống Nichxơn gặp Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu tại San
Klimen, cam kết tiếp tục ủng hộ quân sự cho chính quyền Việt Nam Cộng hoà. Ngay
sau đó, Hoa Kỳ nối lại các chuyến bay do thám trên bầu trời miền Bắc Việt Nam,
đình chỉ họp các hội nghị của Uỷ ban kinh tế hỗn hợp Hoa Kỳ - Việt Nam về việc
giúp xây dựng lại miền Bắc. Tháng 7-1974, Quốc hội Hoa Kỳ thông qua mức viện
trợ kinh tế tài khoá 1974-1975 cho chính quyền Việt Nam Cộng hoà 700 triệu đôla
về kinh tế, 400 triệu đô la về quân sự.
Theo Hiệp
định Pari, Chính quyền Việt Nam Cộng hoà không có cơ sở pháp lý để tồn tại như
một chính quyền và lực lượng chính trị duy nhất ở miền Nam, nhưng họ lại muốn
“được tồn tại như một quốc gia độc lập”. Nguyễn Văn Thiệu ngang nhiên tuyên bố
bắt đầu “cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ ba”. Cuối năm 1973, “ông ta tăng
cường các trận đánh trên không và trên bộ vào các căn cứ đối phương, đồng thời
mở hàng loạt chiến dịch chiếm lãnh thổ trên vùng đất mà Chính phủ Cách mạng lâm
thời chiếm giữ dọc bờ biển phía Đông, trong vùng tam giác sắt và ở vùng đồng
bằng sông Cửu Long”. Tổng thống Nicxơn “vẫn kiên trì ủng hộ Thiệu”, bí mật hứa
hẹn tiếp tục “viện trợ quân sự và kinh tế đầy đủ” và “phản ứng với toàn bộ sức
mạnh nếu Bắc Việt Nam vi phạm hiệp định”. Tổng thống Nicxơn còn tuyên bố, Mỹ
“sẽ tiếp tục công nhận Chính phủ Việt Nam cộng hòa là Chính phủ hợp pháp duy
nhất của Nam Việt Nam”.
Mặc dù gặp
mâu thuẫn giữa lợi ích chiến lược trên thế giới và lợi ích cục bộ ở miền Nam
ViệtNam, Hoa Kỳ vẫn theo đuổi chính sách thực dân mới ở miền Nam, nhưng
không muốn bị sa lầy và tổn thất. Những động thái trên đây cho thấy tính chất
cuộc đấu tranh cách mạng ở miền Nam vẫn là giải phóng dân tộc, chống chủ nghĩa
thực dân mới, mà trực tiếp là đánh vào công cụ của nó là chính quyền và quân
đội Việt Nam Cộng hoà.
Phần lớn các nước xã hội chủ nghĩa
tiếp tục ủng hộ, giúp đỡ Việt Nam khôi phục kinh tế miền Bắc, đấu tranh chống
Hoa Kỳ và chính quyền Việt Nam Cộng hoà vi phạm hiệp định, thực hiện hòa bình
và hoà hợp dân tộc, thống nhất nước Việt Nam, tuy nhiên cũng có nước muốn duy
trì nguyên trạng Đông Dương. Viện trợ của các nước xã hội chủ nghĩa không đầy
đủ và kịp thời như Việt Nam mong muốn, Liên Xô và Trung Quốc đều cắt giảm viện
trợ quân sự.
Một ngày sau
khi Hiệp định Pari được ký tắt (23-1-1973), Ban Bí thư Trung ương Đảng Lao động
Việt Nam ra chỉ thị số 200 (24-1-1973), vạch rõ “cuộc cách mạng ở miền Nam có
nhiều thuận lợi mới, nhưng còn gay go phức tạp, có khả năng tiến triển trong điều
kiện hòa bình được giữ vững, nhưng phải sẵn sàng đối phó với khả năng địch
ngoan cố phá hoại hòa bình".
Tháng 6-1973,
Bộ Chính trị nhận định: “Âm mưu cơ bản và lâu dài của đế quốc Mỹ và tay sai là
tìm mọi cách xoá bỏ sự tồn tại của chính quyền và quân đội cách mạng để chúng
độc chiếm miền Nam, chia cắt lâu dài đất nước ta, biến miền Nam thành một nước
riêng với một chế độ chính trị “quốc gia” thân Mỹ, một nền kinh tế và văn hóa
chịu sự chi phối của Mỹ. Đế quốc Mỹ vẫn tiếp tục duy trì một sự cam kết nhất
định về quân sự và tiếp tục giúp đỡ ngụy quyền Sài Gòn để cho bọn tay sai đủ
sức đứng vững và đối phó với miền Bắc, đồng thời đảm bảo cho Mỹ bám trụ lâu dài
ở miền Nam, mà tránh được nguy cơ phải dính líu trực tiếp vào một cuộc chiến
tranh mới ở miền Nam”.
Do chính sách
can thiệp của Hoa Kỳ và sự ngoan cố của chính quyền Việt Nam Cộng hoà, mặc dù
quy mô và cường độ chiến tranh có giảm bớt, nhưng hòa bình vẫn chưa được lập
lại ở miềnNam. Sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, còn diễn ra quyết liệt,
mà trực tiếp là đánh vào công cụ của chủ nghĩa thực dân mới là bộ máy chính
quyền và quân đội Việt Nam Cộng hoà. Bộ Chính trị chỉ rõ, đó là “cuộc đấu tranh
một mất một còn để giải quyết vấn đề “ai thắng ai” giữa hòa bình với chiến
tranh, giữa độc lập dân tộc với chủ nghĩa thực dân mới, giữa dân chủ tự do và
độc tài phát xít, giữa hoà hợp dân tộc và thống nhất nước nhà với chia rẽ dân
tộc và chia cắt đất nước”.
Bộ Chính trị
xác định nhiệm vụ của cách mạng miền Nam trong giai đoạn mới là “tiếp tục thực
hiện chiến lược cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân”. Khẩu hiệu trung tâm của
giai đoạn mới là “hoà bình, độc lập, dân chủ, cải thiện dân sinh, hoà hợp dân
tộc tiến tới hoà bình thống nhất nước nhà”.
Trên cơ sở
phân tích tình hình thi hành Hiệp định Pari, Bộ Chính trị dự đoán hai khả năng:
Một là, Hiệp
định Pari được thi hành từng bước, xung đột quân sự giảm dần, hòa bình được lập
lại về cơ bản; đấu tranh chính trị ngày càng phát triển, cách mạng ở thế tiến
lên mạnh mẽ.
Hai là, địch
gây chiến tranh trở lại; ta phải tiến hành chiến tranh cách mạng để giành thắng
lợi”.
Bộ Chính trị
chỉ rõ, phải nắm vững tình hình, nắm vững thời cơ, chỉ đạo kiên quyết, khôn
khéo và linh hoạt để đưa cách mạng miền Nam tiến lên. Trong mỗi khả năng phát
triển của tình hình, sẽ còn có nhiều tình huống phức tạp. Song dù tình hình
phát triển theo khả năng nào, con đường tiến lên giành thắng lợi của cách mạng
miền Nam chỉ có thể là con đường cách mạng bạo lực diễn ra dưới hình thức này
hay hình thức khác.
Phải chuẩn bị
sẵn sàng đối phó chắc thắng với khả năng xấu nhất là địch gây lại chiến tranh.
“Nhưng phương hướng chủ động, tích cực và đúng đắn hiện nay có lợi nhất cho sự
nghiệp cách mạng của ta là kết hợp đấu tranh chính trị, quân sự, ngoại giao
trên cơ sở hành động cách mạng đông đảo quần chúng trong vùng địch kiểm soát,
buộc địch thi hành hiệp định, buộc địch đi vào hoà bình để thắng địch”.
Bộ Chính trị
xác định quá trình tiến lên hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ nhân
dân “là một quá trình đấu tranh lâu dài, rất gay go và phức tạp, phải kéo địch
xuống và thắng địch từng bước để tiến tới thắng lợi hoàn toàn. Muốn bảo đảm đi
đến thắng lợi, cách mạng miền Nam phải nắm vững chiến lược tiến công…".
Như vậy, trên
cơ sở quán triệt mục tiêu hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở
miền Nam, Đảng căn cứ vào tình hình thực tế, dự đoán hai khả năng, trước mắt
tranh thủ khả năng giàng thắng lợi bằng phương pháp hoà bình, nhưng không tuyệt
đối hoá khả năng này, mà vẫn chủ động chuẩn bị, sẵn sàng đối phó với khả năng
chiến tranh nếu Hiệp định Pari không được Hoa Kỳ và chính quyền Việt Nam Cộng
hoà tôn trọng.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét