NGHỆ THUẬT
QUÂN SỰ VIỆT NAM TRONG
KHÁNG
CHIẾN CHỐNG MỸ VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM
Sự thật
Với Mĩ, Việt Nam có vị trí địa chính
trị cực kì quan trọng chiến lược chống chủ nghĩa cộng sản tại Đông Nam Á. Vì
vậy, sau Hiệp định Giơnevơ Mĩ đã bỏ ra hơn 620 triệu đôla trang bị các lực
lượng thường trực của quân Ngụy, gồm 150.000 quân chính quy, 25.000 bảo an và 5
vạn dân vệ, chiếm 80% ngân sách quân sự của chế độ Ngô Đình Diệm.
Cuộc
kháng chiến chống Mỹ cứu nước là cuộc kháng chiến gắn với 5 giai đoạn chiến
lược.
Một là, thời kì giữ gìn lực lượng
tiến tới khởi nghĩa từng phần
Lúc
này, phong trào cách mạng ở miền Nam bị dìm trong biển máu. Trước tình hình đó,
Hội nghị Trung ương lần thứ 15 ra quyết định: “Khởi nghĩa giành chính quyền về
tay Nhân dân, dựa vào sức mạnh của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng
vũ trang để đánh đổ quyền thống trị của đế quốc Mĩ và phong kiến, dựng lên
chính quyền cách mạng của Nhân dân” .
Từ
năm 1960, với chủ trương giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, đưa cả nước
đi lên chủ nghĩa xã hội, quân và dân ta đa liên tiếp mở các đợt tiến công quy
mô, kết hợp đấu tranh chính trị với đấu trang vũ trang mà đỉnh cao là phong trào
Đồng Khởi - một đòn bất ngờ giáng vào chiến lược Aixenhao của Mĩ ở miền Nam,
làm thất bại chủ nghĩa thực dân mới của Mĩ.
Hai là, cách mạng miền Nam từ khởi
nghĩa từng phần phát triển thành chiến tranh cách mạng, đánh bại chiến lược
“Chiến tranh đặc biệt”của Mĩ
Năm
1961, Mĩ đưa ra chiến lược Chiến tranh đặc biệt, sử dụng chủ yếu quân đội của
chính quyền Ngụy được trang bị vũ khí tối tân; đồng thời Hoa Kì cũng tăng thêm
nguồn viện trợ kinh tế cho chính quyền Ngô Đình Diệm. Ở nông thôn, chính quyền
Ngô Đình Diệm thực hiện chính sách “Ấp chiến lược” với mưu đồ “tát nước bắt cá”
nhằm cách ly lực lượng cách mạng với nhân dân.
Quân
và dân miền Nam đã kết hợp tiến hành đấu tranh vũ trang và đấu tranh chính trị
trên cả 3 vùng chiến lược với 3 mũi giáp công, 2 lực lượng quân sự, chính trị
và 3 thứ quân: bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích. Quân và
dân miền Nam đã giành được thắng lợi trong trận “Ấp Bắc” (01-1963); đồng thời
năm 1964 quân và dân ta đã nắm thế chủ động tiến công trên toàn chiến trường.
Tháng 12-1964 tiến hành chiến dịch Bình Giã. Tháng 6-1965, trước các thất bại
liên tiếp trên chiến trường, chính phủ Mĩ quyết định hủy bỏ Kế hoạch
Staley-Taylor và đưa quân Mĩ trực tiếp tham chiến ở miền Nam.
Ba là, đánh bại chiến lược “Chiến
tranh cục bộ” ở miền Nam và chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của Mĩ ở miền Bắc
(1965-1968)
Đây
là giai đoạn khốc liệt nhất của chiến tranh ở Việt Nam, bở Mĩ và chính quyền
Sài Gòn đã tổ chức lực lượng quân đội với quân số trên 1 triệu quân (54 vạn
lình Mĩ, gần 60 vạn lính ngụy và chư hầu), tiến hành các đợt hành quân “tìm
diệt” và “bình định”. Trước tình thế khó khăn này, các đơn vị giải phóng chủ
lực phải rời bỏ vùng đồng bằng rút lui về nông thôn hoặc núi rừng và phát động
chiến tranh nhân dân đánh du kích, phục kích, tập kích, đánh đặc công... với
phương châm “Nắm thắt lưng địch mà đánh”, chủ yếu nhằm tiêu hao sinh lực địch,
từng bước làm thất bại chiến lược quân sự của Mĩ.
Tháng
5-1965, trong trận Núi Thành, bộ đội đặc công kết hợp với du kích địa phương đã
tiêu diệt và làm bị thương 180 tên Mĩ. Lần đâù tiên lực lượng vũ trang của ta
tiêu diệt gọn một đại đội Mĩ. Sau đó chiến thắng liên tiếp các trận Vạn Tường
(8-1965), Plâyme, Đất Quốc, Bầu Bàng, Dầu Tiếng, Hiệp Đức...đến cuộc Tổng tiến
công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 đã đánh dấu chiến lược Chiến tranh cục bộ
của Mĩ bị phá sản.
Bốn là, đánh bại chiến lược “Việt
Nam hóa chiến tranh” (1969-1973) và chiến tranh phá hoại lần thứ hai của Mĩ ở
miền Bắc, buộc Mĩ phải kí Hiệp định Pari về Việt Nam
Sau
Mậu Thân, để ngụy quân, ngụy quyền đứng vững, Mĩ ra sức viện trợ giúp Việt Nam
Cộng hòa xây dựng quân đội theo hình mẫu của quân lực Mĩ, với các loại vũ khí
tối tân và sự yểm trợ tối đa của không quân Mĩ trong các cuộc giao tranh với
quân giải phóng miền Nam.
Dưới
sự lãnh đạo của Đảng trên các mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao, trên cả
chiến trường miền Nam và miền Bắc, đặc biệt phát huy sức mạnh tiến công của bộ
đội chủ lực làm phá sản chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh của Nichxơn. Ở miền
Bắc, quân và dân ta tổ chức bố trí trận địa phòng không đánh bại cuộc tập kích
đường không chiến lược của đế quốc Mĩ vào Hà Nội, Hải Phòng (từ 18 đến
30-12-1972). Thành công về nghệ thuật tổ chức phát hiện ý đồ, dự đoán đúng âm
mưu đánh phá của chiến lược không quân Mĩ, tổ chức và áp dụng hợp lí lực lượng
phòng không 3 thứ quân, đánh các loại máy bay chiến lược, chiến thuật của địch
cả ban đêm và ban ngày.
Đặc
biệt là nghệ thuật xác định đúng khu vực tác chiến; đồng thời phát huy cao nhất
sức mạnh của lực lượng tên lửa phòng không, hiệp đồng tác chiến chặt chẽ giữa
các binh chủng trong Quân chủng Phòng Không - Không quân, giữa lực lượng phòng
không của 3 thứ quân làm thất bại các ý đồ thâm độc của địch trong cuộc tập
kích đường không chiến lược. Mĩ chịu thất bại ngồi và đàm phán, kí Hiệp định
Pari buộc rút quân về nước.
Năm là, tạo thế, tạo lực tiến hành
cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1968, giải phóng hoàn toàn miền Nam kết
thúc cuộc kháng chiến chống Mĩ (1973-1975)
Tháng
7-1973, Hội nghị Trung ương lần thứ 21 đã họp và ra Nghị quyết: “Thắng lợi vĩ
đại của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước và nhiệm vụ cách mạng trong giai
đoạn mới” . Trong đó đã vạch ra nhiệm vụ tác chiến trên các chiến trường nhằm
tạo ra cục diện mới; đồng thời chỉ rõ, cần tích cực chuẩn bị các mặt, các lực
lượng vũ trang và các quân, binh chủng để tích cực xây dựng cơ sở vật chất, kĩ
thuật bảo đảm tập trung cho tác chiến lớn.
Tháng
3-1975, Đảng ta nhận định: chưa bao giờ chúng ta có đủ điều kiện về chính trị,
quân sự như hiện nay nhằm kết thúc chiến tranh thống nhất Tổ quốc. Bộ Chính trị
hạ quyết tâm: “Động viên sự nổ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân
chuẩn bị mọi mặt, tạo điều kiện chín muồi tiến hành tổng công kích, tổng khởi
nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân, giải phóng hoàn toàn miền Nam” , Đảng
xác định 5 mục tiêu lớn ở Sài Gòn - Gia định gồm: Bộ Tổng tham mưu, Dinh Độc
lập, Sân bay Tân Sơn nhất, Biệt khu Thủ đô và Tổng Nha cảnh sát; đồng thời Đảng
chỉ rõ phải nắm chắc địa hình, cách bố trí phòng thủ của địch, nhằm chủ động
phản công.
Nắm
chắc thế bố trí của địch, ta tiến hành tổ chức lực lượng chặt chẽ, phối hợp tác
chiến linh hoạt bốn quân đoàn và một binh đoàn cùng các tiểu đoàn đặc công, đơn
vị biệt động tự vệ và lực lượng chính trị quần chúng rộng khắp trong thành phố.
Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương mà trực tiếp là Bộ Chỉ huy Chiến dịch đã chọn
5 mục tiêu chính cần đánh chiếm; đồng thời tổ chức thế bao vây chiến lược xung
quanh thành phố với 5 hướng tiến công đánh vào địa bàn then chốt ở vùng ven, mở
đường cho các binh đoàn đột kích vào đánh chiếm các mục tiêu quyết định để giải
phóng Sài Gòn - Gia Định. Kết thúc chiến tranh, Bắc - Nam thống nhất, non sông
thu về một mối, chấm dứt hoàn toàn chiến tranh ở Việt Nam sau hơn hai thập
kỉ.
Những bài học kinh nghiệm thực tiễn
Nắm
vững và vận dụng sáng tạo quy luật của chiến tranh để chỉ đạo cuộc Tổng tiến
công và nổi dậy Mùa Xuân 1975, Đảng ta đã để lại nhiều bài học quý giá tiếp tục
nghiên cứu trong thực tiễn hiện nay. Đặc biệt là nhiệm vụ tác chiến bảo vệ chủ
quyền biển, đảo của Tổ quốc đang đặt ra trách nhiệm nặng nề của lực lượng vũ
trang và Nhân dân cả nước.
Trước
hết, sau khi đất nước thống nhất, nhân dân ta lại phải tiếp tục chịu đựng những
thử thách gay gắt mới chống lại chính sách bao vây cấm vận kéo dài nhiều năm;
đối phó với chiến tranh biên giới, giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt
chủng, khắc phục tình trạng trì trệ, khủng hoảng nền kinh tế. Từ một nước
nghèo, nền kinh tế cạn kiệt, Việt Nam đã có bước phát triển nhanh chóng theo
hướng CNH, HĐH. Sau 32 năm đổi mới, kinh tế nước ta liên tục tăng trưởng, chính
trị xã hội ổn định, quốc phòng - an ninh được giữ vững, vị thế Việt Nam trên
trường quốc tế tiếp tục được nâng cao, đời sống Nhân dân ngày càng được cải
thiện, khẳng định đường lối lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam, là
kết quả sự đoàn kết, nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta.
Không
chỉ trong kháng chiến chống Thực dân Pháp và chống Đế quốc Mĩ, mà ngày nay sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, trí tuệ và nghệ thuật quân
sự Việt Nam vẫn tiếp tục được phát huy và nâng lên tầm cao mới. Tinh thần của
chiến thắng 30-4, ý chí quyết chiến, quyết thắng trong cuộc kháng chiến chống
Mĩ cứu nước đang thôi thúc chúng ta vươn lên chiến thắng đói nghèo, lạc hậu.
Bài học kinh nghiệm về sự sáng tạo, táo bạo, bất ngờ trong kháng chiến đang
giúp chúng ta tranh thủ thời cơ, biến thách thức thành cơ hội, tận dụng tiềm
năng, thế mạnh vượt lên khó khăn, ổn định và phát triển kinh tế - xã hội.
Hai
là, công cuộc đổi mới đất nước, Đảng cũng không có lợi ích nào khác ngoài việc
phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, “Mọi chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà
nước phải phù hợp với lợi ích của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân” . Những
kinh nghiệm lãnh đạo, chỉ đạo cuộc kháng chiến chống Mĩ cưú nước là bài học quý
báu để Đảng ta quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của
Đảng, Nghị quyết Trung ương 4 (Khóa XII) “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn
Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, những biểu hiện tự
diễn biến, tự chuyển hóa trong nội bộ”, gắn với thực hiện Chỉ thị 05 của Bộ
Chính trị “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí
Minh”, xây dựng Đảng ta thật trong sạch vững mạnh, có tầm trí tuệ, sức chiến
đấu, đủ năng lực lãnh đạo đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
trong tình hình mới. Đặc biệt bài học về phát huy sức mạnh hòa hợp và đoàn kết dân
tộc đòi hỏi chúng ta tiếp tục củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, có những
chính sách khuyến khích và trân trọng hiền tài, khơi nguồn lực của xã hội,
“Công tác lãnh đạo, chỉ đạo phải nhạy bén, sáng tạo, phát huy sức mạnh của cả
hệ thống chính trị, của toàn xã hội” , thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát
triển kinh tế - xã hội đặt ra.
Thứ
ba, trong khi khẳng định những thành tựu và tiến bộ đã đạt được, chúng ta cần
nghiêm túc nhận rõ những khuyết điểm, tồn tại và những thách thức mới đang đặt
ra cho sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước. Nền kinh tế còn nhỏ, sức cạnh
tranh còn hạn chế. Các lĩnh vực văn hóa, xã hội, xây dựng tổ chức bộ máy của hệ
thống chính trị còn nhiều yếu kém; chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa tốc độ
tăng trưởng và chất lượng phát triển; giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển
văn hóa. Tình trạng quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tội phạm, tệ nạn xã hội,
suy thoái đạo đức, lối sống...chưa bị ngăn chặn, đẩy lùi. Nền dân chủ xã hội
chủ nghĩa và sức mạnh đại đoàn kết dân tộc chưa được phát huy đầy đủ. Một số
mặt công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước còn chuyển biến chậm, hiệu quả
thực tế chưa cao, còn tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định chính trị, xã hội.
Vì vậy, kiên quyết khắc phục bằng được các yếu kém, khuyết điểm, chủ động nắm
bắt thời cơ, làm chủ tình hình, đẩy lùi nguy cơ, thách thức, đưa đất nước phát
triển nhanh và bền vững là đòi hỏi khách quan của lịch sử; đồng thời là khát
vọng thiết tha, niềm tin mãnh liệt, quyết tâm sắt đá của tất cả người Việt Nam
yêu nước hôm nay.
Phía
trước chúng ta có cả thời cơ và thách thức, để phát huy truyền thống quý báu
trong lịch sử dựng nước và giữ nước, hơn lúc nào hết Đảng ta vẫn đặt lên hàng
đầu công tác bồi dưỡng, phát triển nâng cao trí tuệ và trình độ mọi mặt cho cán
bộ, đảng viên và quần chúng, nhằm tạo động lực đưa cách mạng Việt Nam tiếp tục
tiến lên hoàn thành thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,
vì mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn
minh", theo định hướng XHCN.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét