QUÂN
KHU TRỊ THIÊN TRONG CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG
VÀ NỔI DẬY XUÂN MẬU THÂN 1968
Trung
Lập
Trong sự nghiệp kháng chiến chống
Mỹ, cứu nước, chiến trường Trị Thiên luôn là nơi đọ sức hết sức quyết
liệt và phức tạp giữa ta và địch về mọi mặt, nhất là về mặt quân sự. Đây
là một chiến trường có vị trí quan trọng đặc biệt về chiến lược đối với
ta cũng như đối với địch. Đối với ta, Trị Thiên là đầu cầu chiến lược nối
liền hai miền Nam - Bắc, là địa bàn trực tiếp tiến công để giải phóng Trị
Thiên và tiến công sâu vào phía Nam, đồng thời là địa bàn bảo vệ trực
tiếp miền Bắc xã hội chủ nghĩa, bảo vệ vùng giải phóng Trung - Hạ Lào và
bảo vệ hành lang chiến lược của 3 nước Đông Dương. Đối với địch, Trị
Thiên là nơi chúng thực hiện âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta và cô
lập cách mạng miền Nam, là "lá chắn vững chắc" bảo vệ căn cứ
quân sự liên hợp Đà Nẵng, là địa bàn ngăn chặn chủ yếu sự chi viện của
miền Bắc cho cách mạng miền Nam, cách mạng Lào và Camphuchia, là bàn đạp
trực tiếp để uy hiếp và tiến công miền Bắc và đánh chiếm Trung - Hạ Lào.
Vì thế, địch hết sức coi trọng Trị Thiên, lấy đây làm khu vực trọng điểm
và là nơi thí điểm để thực hiện mọi ý đồ và âm mưu đen tối, nhằm ngăn
chặn và phá hoại cách mạng Việt Nam cùng hai nước Lào, Campuchia.
Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy
Xuân Mậu Thân 1968, Quân uỷ Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh, khi xây dựng
phương án tổng công kích, tổng khởi nghĩa, đã xác định: Đường 9 - Khe Sanh
là chiến trường chính của bộ đội chủ lực nhằm thu hút, giam chân lực
lượng cơ động chiến lược của địch; lấy Sài Gòn, Nam Bộ và Trị Thiên - Huế
làm chiến trường chính của đòn tổng công kích, tổng khởi nghĩa, trong đó
Sài Gòn, Huế và các thành phố lớn là trọng điểm. Đứng trước nhiệm vụ lịch sử hết
sức trọng đại này, Thường vụ Khu uỷ và Quân khu uỷ, dưới sự chỉ đạo của
Quân uỷ Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh, đã nhanh chóng thành lập Mặt trận
thành phố Huế, gồm các quận, huyện nội, ngoại thành và Mặt trận Trị Thiên
(gọi tắt là B4). Ban chỉ đạo tổng công kích, tổng khởi nghĩa ở B4 và Mặt
trận Huế do Thường vụ Khu uỷ và Quân khu trực tiếp chỉ đạo. Các ban chỉ
đạo, chỉ huy ở cánh Nam, Bắc Huế; ở mặt trận Quảng Trị, Phú Lộc và ban
chỉ đạo hậu phương toàn Quân khu cũng được gấp rút thành lập. Phần lớn
cãn bộ chủ chốt của Quân khu, huyện, thị, thành phố được cử về các địa
phương bám nắm địa bàn. Các đồng chí Bí thư Đảng bộ các cấp, các đội
trưởng đội công tác cơ sở, chỉ huy trưởng các đơn vị được triệu tập về
Quân khu dự tập huấn, quán triệt chủ trương, kế hoạch Tổng tiến công và
nổi dậy; đồng thời cùng cơ quan Quân khu thoả luận, xây dựng phương án
tác chiến cụ thể trên từng cánh, từng mũi. Sau khi hoàn thành mọi công tác
chuẩn bị cho chiến đấu, tăng cường lực lượng, bố trí chiến trường, Bộ Tư
lệnh Quân khu Trị Thiên phối hợp với Bộ Tư lệnh Mặt trận Đường 9 mở một
đợt hoạt động quân sự, nhằm thu hút lực lượng địch và nghi binh, đánh lạc
hướng mọi sự phán đoán của chúng. Cụ thể, đợt hoạt động quân sự được bắt
đầu từ đêm mồng 6 rạng ngày 7-1-1968, Tiểu đoàn bộ binh 804 cùng một đại
đội đặc công, một đại đội súng cối và ĐKZ, một đại đội công binh, do đồng
chí Trần Lưu Chử, Đoàn phó Đoàn 4 chỉ huy, nổ súng tiến công diệt đồn Cầu
Huê (quận Phú Lộc), đồn An Bằng và Nước Ngọt, loại khỏi vòng chiến đấu
gần 400 tên. Được sự hỗ trợ của đòn tiến công quân sự, quần chúng nhân
dân đã tiến hành phá giao thong địch trên đường số 1, đoạn Phú Lộc - Hải
Vân, buộc địch phải vội vàng điều một tiểu đoàn Mỹ từ Phú Bài vào đối
phó.
Trong lúc tuyến đường 1 chưa được
giải toả, ngày 13 - 1, trên hướng Quảng Trị, Tiểu đoàn 8 bộ binh phục
kích phá tan một đoàn xe vận tải gồm 9 chiếc trên đoạn đường Tân Lâm - Cà
Lu (phía tây đường 9), diệt hàng trăm tên địch. Tiếp đến ngày 18 - 1,
Đoàn 31 đặc công phối hợp với pháo binh tập kích tiêu diệt quân Mỹ trên
các điểm cao Động Tri, 832 và 845. Ngoài ra, ở một số địa điểm khác,
trong đêm 12 - 1, lực lượng vũ trang huyện Hương Trà cùng với Tiểu đoàn
12 đặc công đánh bại cuộc hành quân càn quét của hai tiểu đoàn ngụy vào
vùng núi Hương Trà, bảo vệ địa bàn đứng chân và cơ sở vật chất chuẩn bị
cho tổng tiến công. Phối hợp với các lực lượng vũ trang của Quân khu Trị
Thiên, trong đêm 19 - 1, Trung đoàn 270 được điều động vào chốt giữ các
điểm: Lâm Xuân, Bạch Cầu, Hoàng Hà; sử dụng Tiểu đoàn 25 công binh làm
lực lượng mở cửa cho Trung đoàn 48 - Sư đoàn 320 vào đánh Cam Lộ và đánh
giao thông địch trên đường số 9. Đặc công Hải quân kết hợp với một bộ
phận Trung đoàn 270 đánh cắt giao thông thuỷ của địch trên sông Bồ Điền,
đoạn Cửa Việt - Đông Hà. Trong nội thành phố Huế, các đội biệt động thực
hiện một đợt hoạt động, diệt gần 300 tên ác ôn, mật vụ. Giữa lúc địch đang tập trung để phán đoán đợt hoạt động quân sự mới của
ta, từ ngày 12 đến 27 - 1, Liên quân Lào - Việt mở chiến dịch Nậm Bạc,
đánh thiệt hại nặng 11 tiểu đoàn ngụy Lào, giữ vững hành lang chiến lược,
buộc Mỹ phải phân tán đối phó. Cùng diễn ra với chiến dịch Nâm Bạc, đêm
21 - 1 - 1968, Bộ Tư lệnh chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh ra lệnh tiến công
tập đoàn cứ điểm Khe Sanh và tuyến phòng thủ đường số 9. Sáng 21 - 1,
Trung đoàn 66 - sư đoàn 304 đánh chiếm quận lỵ Hướng Hoá, giải phóng hơn
800 dân. Tiểu đoàn 6 - Trung đoàn 2 - Sư đoàn 325C đánh chiếm điểm cao
832, án ngữ Tây Bắc cụm cứ điểm Tà Cơn. Đêm 23 - 1, Trung đoàn 24 - Sư
đoàn 304, đươc tăng cường một đại đội xe tăng PT-76, tiến công đánh chiếm
căn cứ Huội San, phá một mắt xích quan trọng trên tuyến phòng thủ phía
Tây đường số 9... Với những hoạt động này, địch cho rằng ta sẽ đánh chiếm
thị xã Quảng Trị, nên chúng vội vàng điều lực lượng ra bảo vệ thị xã
Quảng Trị và quận lỵ Triệu Phong, tăng thêm quân cho khu vực đường số 9. Như vậy, đợt hoạt động quân sự
của Quân khu Trị Thiên phối hợp với Bộ Tư lệnh Mặt trận đường số 9 giành
được thắng lợi đúng kế hoạch đề ra, đã thu hút phần lớn lực lượng cơ động
chiến lược của địch, đánh lạc hướng mọi sự phán đoán của chúng. Các lực
lượng vũ trang và nhân dân đã làm cho chiến trường Trị Thiên có bước tiến
bộ quan trọng, đánh dấu một bước chuyển biến mới toàn diện, tạo ra một
cục diện mới thuận lợi hơn nữa cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân
Mậu Thân 1968. Giữa lúc địch đang dồn tâm trí và lực lượng đối phó ở hướng đường số 9 -
Quảng Trị, thì từ những cánh rừng phía Tây Hương Trà, Hương Thuỷ, Phong
Điền, các đơn vị chủ lực và địa phương của ta khẩn trương hành quân tới
vị trí tập kết. Bộ chỉ huy tiền phương Quân khu Trị Thiên rời căn cứ ở
Phong Điền xuống vùng Khe Trái, huyện Hương Trà để bám sát các mũi tiến
công. Theo kế hoạch, đúng
2 giờ 33 phút ngày 31 - 1 - 1968, pháo binh ta ở cánh bắc nổ súng trước,
phát lệnh công kích, khởi nghĩa trên toàn mặt trận. Sau 3 phút pháo ĐKB ở
cánh Nam được lệnh bắn dồn dập vào sân bay Phú Bài, mở màn cho cuộc Tổng
tiến công và nổi dậy trên toàn chiến trường Trị Thiên - Huế. Các đơn vị Trung
đoàn 6, Trung đoàn 9, Đoàn 5 cùng các đội đặc công, biệt động, trinh sát
vũ trang, các đại đội bộ đội địa phương, các đội công tác, du kích, tự vệ
nội và ngoại thành đồng loạt tiến đánh các mục tiêu.
Trên cánh Bắc: một tổ du kích mật,
do đồng chí Đặng Văn Hiếu chỉ huy, mở đường cho Đại đội 1, Tiểu đoàn 12
đặc công và Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 6 bộ binh đánh vào sở chỉ huy Sư đoàn
1 ngụy ở Mang Cá. Cùng lúc, một bộ phận đặc công bí mật vượt qua tường
thành khu Mang Cá để phát triển vào bên trong, song bị địch phát hiện
chống trả quyết liệt. Đồng chí Mũi trưởng Nguyễn Văn Châu đã dùng cối 82
bắn chế áp để đưa lực lượng đánh vào cổng Bắc, diệt 4 lô cốt, sau đó đánh
sang cổng Tây. Ở Tây Lộc, sau khi bí mật vượt qua cống Thuỷ Quan và cửa
Chánh Tây, Đại đội 2 đặc công và Tiểu đoàn 1 - Trung đoàn 6 bộ binh ba
lần tiến công vào sân bay, gây thiệt hại nặmg 2 tiểu đoàn địch, phá huỷ
20 máy bay, nhưng chỉ chốt giữ được đến 11 giờ ngày 31 - 1.
Trong khu vực Thành Nội, Đại đội 4
đặc công cùng Đại đội 5 - Tiểu đoàn 2 - Trung đoàn 6 đột phá từ Cửa Hữu,
diệt đơn vị thám báo và gần 100 tên cảnh sát, bắt 26 tên, sau đó phát
triển đánh chiếm khu vực Cột Cờ. Đúng 9 giờ ngày 31 - 1, cờ Mặt trận dân
tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tung bay trên đỉnh Phu Văn Lâu. Sau khi
đánh chiếm Cột Cở, Tiểu đoàn 2 phát triển qua cửa Đông Ba, cửa Thượng Tứ,
cống Thanh Long, tiến ra phía Bắc cầu Tràng Tiền đánh chiếm các ty, sở
ngụy quyền ở quận Nhất, diệt đồn cảnh sát chợ Đông Ba, truy quét lũ ác
ôn, cảnh sát suốt dọc đường Trần Hưng Đạo.
Ở khu vực phường Gia Hội, đội biệt
động số 14 đập tan chính quyền ngụy. Sáng ngày 1 - 2, nhân dân toàn
phường nổi dậy truy lùng ác ôn, tề điệp, mật vụ, tham gia phục vụ chiến
đấu. Trong ngày 31 - 1 và đêm 1 - 2 - 1968, lực lượng ta cơ bản chiếm
được thành phố Huế. Tuy vậy, do chưa dứt điểm được vị trí địch ở đồn Mang
Cá, nên về sau địch tổ chức phản kích gây cho ta nhiều khó khăn.
Phối hợp với nội thành, ở vùng ven, Tiểu đoàn 818 cùng lực lượng vũ trang
huyện Hương Trà nổ súng tiến công diệt các vị trí địch vòng ngoài ở Kim
Long, Kẻ Vạn, Văn Thánh, cầu Bạch Hổ, cầu An Hoà, Đốc Sơ, Bồn Tứ, Bồn
Phổ, An Lưu... diệt và bắt hàng trăm tên ác ôn, cảnh sát và nhân viên
ngụy quyền. Đến trưa ngày 1 - 2, bộ đội địa phương huyện Hương Trà cùng
nhân dân nổi dậy cướp chính quyền của địch, thành lập chính quyền cách
mạng và hăng hái tham gia chiến đấu. Cùng với Hương Trà, lực lượng vũ
trang huyện Quảng Điền tiến công mạnh mẽ đánh chiếm đồn Phổ Lại, uy hiếp
các vị trí Đức Trọng, cầu Kẽm, cắt giao thông tuyến Phú Ốc - Sịa; giải
phóng các xã An Gia, Thanh Bình, Thủ Lễ, làm chủ Sịa, bao vây quận lỵ
Quảng Điền. Cùng lúc, lực lượng vũ trang huyện Phong Điền đột nhập vào
chợ Phò Trạch, làng Thanh Hương, hỗ trợ cho hơn 3.000 quần chúng bao vây,
uy hiếp quận lỵ, buộc địch phải rút bỏ 3 vị trí ở Thanh Hương, vùng giải
phóng được nối liên hoàn từ Hải Lăng vào Phong Điền, Quảng Điền.
Ở cánh Nam Huế, Tiểu đoàn 1 đặc
công, dưới sự chỉ huy của đồng chí Tiểu đoàn trưởng Trương Đức Tuyển và
Chính trị viên Trương Đình Chiến, được tăng cường một trung đội bộ binh
và một khẩu đội ĐKZ, đánh chiếm căn cứ Trung đoàn 7 thiết giáp ngụy ở Tam
Thai. Đến 6 giờ ngày 31 - 1, ta làm chủ hầu hết các vị trí trong căn cứ,
phá 35 xe tăng, thiết giáp, diệt trên 350 tên. 7 giờ ngày 31 - 1, các đơn
vị bộ binh và xe tăng địch ở vòng ngoài tiếp tục phản kích, Tiểu đoàn 1
đặc công bám trụ và liên tiếp đánh bật các đợt phản kích của chúng. Sau 3
ngày liên tục chiến đấu quyết liệt với địch, lực lượng ta bị tổn thất,
quân số chưa được bổ sung nên chiểu 2 - 2, đặc công ta rút về Ngũ Tây để
củng cố sau khi đã hoàn thành nhiêmu vụ giữ Tam Thai liên tục 3 ngày, mở
cửa cho các đơn vị vào đánh Huế.
Cùng thời gian với Tiểu đoàn 1 đặc công chiến đấu ở Tam Thai, Tiểu đoàn 2
đặc công, dưới sự chỉ huy của Tiểu đoàn trưởng Hùng Hải Vũ và Chính trị
viên Trần Đăng Hiền, đã táo bạo tiến công vào khách sạn Thuận Hoá và Tiểu
khu Thừa Thiên, đến 4 giờ ngày 1 - 2, Đại đội 1 đã chiếm tầng một khách
sạn Thuận Hoá, Đại đội 2 chiếm Tiểu khu Thừa Thiên, ngã 5 toà Khâm và
phát triển xuống khách sạn Hương Giang, cùng Tiểu đoần 840 bộ binh chiếm
Đài phát thanh Huế và phía Nam cầu Tràng Tiền. Đại đội 3 cùng biệt động
thành đánh đồn An Cựu. diệt 2 tiểu đoàn địch, sau đó phát triển lên Kho
Rèn, diệt 50 tên cảnh sát, bắn cháy 6 xe tăng, kết hợp với Đại đội 1 -
Tiểu đoàn 804 bộ binh tiến công Trại hậu cần Lê lai, diệt hơn 200 tên
ngụy, phá huỷ hơn 100 xe vận tải. Sau khi diệt các mục tiêu được phân
công, toàn bộ Tiểu đoàn 804 vòng ra khu vực nam cầu Tràng Tiền xây dựng
trận địa để chuẩn bị đánh địch phản kích.
Hoà nhịp với Tiểu đoàn 804, Tiểu
đoàn 810, do hai đồng chí Bảy Khiêm và Đặng Văn Đáp chỉ huy, tiến công
mạnh mẽ đánh chiếm cầu Ga, Bến Ngự, Nam Giao, đường Lê Lợi... diệt tiểu
đoàn bình định, tỉnh đoàn Bảo an, ty Sắc tộc, toà Đại diện chính quyền
Sài Gòn ở Trung phần, toà Tỉnh trưởng, bắt sống Đại tá Nguyễn Văn Đại,
tỉnh phó Thừa Thiên. Thừa thắng, Tiểu đoàn 810 tiếp tục tiến công nhà lao
Thừa Phủ, giải phóng hơn 2.000 cán bộ cách mạng bị địch giam cầm. Cùng
lúc, Đại đội 4 đặc công đột nhập vào trại biệt giam thẩm vấn, giải thoát
107 cán bộ cách mạng. Như vậy, trong hai ngày (31 - 1 và 1 - 2 - 1968),
các lực lượng vũ trang của ta cơ bản đã đánh chiếm được thành phố Huế.
Tuy nhiên, do chưa dứt điểm được sở chỉ huy Sư đoàn 1 ngụy quân ở Mang
Cá, không chia cắt địch từ Cửa Thuận An lên Bao Vinh, nên về sau địch gây
cho ta nhiều khó khăn. Liên tục từ ngày 2 đến 7 - 2 - 1968, bộ đội ta
liên tục đánh địch phản kích, hỗ trợ cho nhân dân nổi lên giành chính
quyền làm chủ, tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Các huyện ở ngoại
thành, bộ đội địa phương và dân quân du kích liên tục đánh địch, hỗ trợ
cho quần chúng nổi dậy, phát triển lực lượng.
Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy
tại Trị Thiên - Huế, ta đã giải phóng 227.300 dân, 40 xã và 296 thôn. Uỷ
ban nhân dân cách mạng ở một số huyện và thành phố Huế được thành lập.
Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hoà bình Việt Nam thành phố
Huế ra đời. Thắng lợi quan trọng này cùng với thắng lợi toàn miền đã làm
lay chuyển ý chí xâm lược của Mỹ, buộc Tổng thống Giôn - xơn phải
"xuống thang" chiến tranh, chịu ngồi lại đàm phán với ta ở
Pari, thay Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Tổng chỉ huy quân viễn chinh Mỹ ở
miền Nam Việt Nam, Giôn - Xơn thôi không ra ứng cử nhiệm kỳ hai. Cuộc
Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thuân về cơ bản đã đánh bại chiến lược
"Chiến tranh cục bộ" của Mỹ, mở ra cho ta khả năng thực hiện
trọn vẹn chiến lược "đánh cho Mỹ cút", để tiến tới "đánh
cho ngụy nhào", giành laịu độc lập thống nhất hoàn toàn Tổ quốc.
Cuộc tiến công anh dũng, liên tục 25 ngày đêm của quân dân thành phố Huế
là mốc son nổi bật về chiến thắng của cuộc Tổng tiến công Mậu Thân, làm
cho cả nước tự hào về Huế, mảnh đất yêu thương của Tổ quốc đã góp phần
rất vẻ vang vào thắng lợi mở đầu của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy của
miền Nam anh hùng. Thắng lợi của Xuân Mậu Thân 1968 là đỉnh cao chói lọi
của cả một cao trào chiến tranh cách mạng được phát động và tổ chức theo
ý đồ chiến lược của Trung ương Đảng từ những năm trước đây, nhất là trong
hai năm 1967 - 1968 ở Trị Thiên, Khu uỷ được thành lập chịu trách nhiệm
lãnh đạo trực tiếp và toàn diện phong trào cách mạng Trị Thiên. Sau đó,
Quân khu và Bộ Tư lênh Quân khu được thành lập, chịu trách nhiệm tham nưu
cho Khu uỷ và thay mặt Khu uỷ trực tiếp chỉ đao, chỉ huy các lực lượng vũ
trang thực hiện các nhiệm vụ quân sự, chính trị mà Quân uỷ Trung ương và
Khu uỷ đề ra. Về nguyên nhân thắng lợi, ngoài những yếu tố cơ bản nêu
trên, Đảng uỷ - Bộ Tư lênh Quân khu trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo lực lượng
3 thứ quân thực hiện nhiệm vụ quân sự đã có nhiều sáng tạo, có nhiều
thành công với những ưu điểm sau đây:
Đảng uỷ - Bộ Tư lệnh Quân khu đã tập
trung quán triệt tư tưởng tiến công, chuẩn bị thế trận chiến tranh nhân
dân vững mạnh, là yếu tố cơ bản để tổ chức thắng lợi hướng tiến công và
nổi dậy Tết Mậu Thân ở Trị Thiên - Huế.
Xuất phát từ đặc điểm, tình hình
chung của phong trào Trị Thiên từ trước năm 1968 có nhiều khó khăn, phong
trào Đồng khởi ở đồng bằng chậm hơn các chiến trường khác, sau đó địch
phản kích quyết liệt ở đồng bằng trong điều kiện ta chưa kịp củng cố.
Song chỉ trong vòng chưa đầy hai năm, Quân khu Trị Thiên ra đời, đã xác
định phương hướng hoạt động là phải "đưa chiến tranh xuống đồng bằng
kết hợp chiếm lĩnh, đứng vững trên vùng giáp ranh, xây dựng cơ sở để
chuẩn bị đánh thẳng vào đô thị". Từ đó, Quân khu nhanh chóng củng
cố, xây dựng lực lượng chiến đấu, làm chuyển biến cục diện có lợi cho ta.
Đây là một thắng lợi quan trọng, bước đầu tạo điều kiện để Khu uỷ, Quân
khu uỷ, Bộ Tư lệnh Quân khu chấp hành mệnh lệnh. Tiến công đúng mục tiêu,
đúng kế hoạch, đúng thời gian theo đúng ý đồ lớn của Đảng.
Toàn Đảng bộ, mà trước hết là Khu
uỷ, Quân khu uỷ và Bộ Tư lệnh Quân khu, đã nắm được ý đồ cấp trên, nhanh
chóng quán triệt đúng thời cơ và nhiệm vụ, nhất là thấm nhuần và nêu cao
được tư tưởng tiến công thích hợp giữa chiến tranh nhân dân địa phương
kết hợp tốt với chiến tranh chính quy của bộ đội chủ lực ở Đường 9. Thực hiện tốt mối quan hệ phối
kết hợp với Mặt trận Đường 9, biết tận dụng những thắng lợi và khả năng
giúp đỡ Đường 9 để xây dựng thế trận phía sau, đẩy mạnh phong trào chiến
tranh du kích và phát triển lực lượng vũ trang địa phương đủ sức hoàn
thành nhiệm vụ được giao.
Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy
Xuân Mậu Thân 1968, các lực lượng vũ trang Quân khu Trị Thiên đã thực
hiện chỉ thị, mệnh lệnh của trên một cách triệt để, đề ra chủ trương táo
bạo; đồng thời có quyết tâm cao, có biện pháp thực hiện kiên quyết, thích
hợp nên đã đem lại hiệu quả cao. Công tác chuẩn bị được thực hiện toàn
diện, có kế hoạch nghi binh đánh lạc hướng địch, giữ bí mật, bất ngờ cho
đến lúc nổ súng. Sử dụng lực lượng tập trung, với phương thức và các hình
thức chiến tranh phong phú. Đặc biệt, đã phối hợp tốt lực lượng bên ngoài
với lực lượng bên trong, giữa tiến công và nổi dậy, giữa ba mũi, ba thứ
quân. Do đó đã tạo nên sức mạnh tổng hợp chưa từng có, giáng một đòn bất
ngờ vào trung tâm đầu não của địch.
Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy ở Huế
cũng như toàn bộ đô thị miền Nam thực sự là một chủ trương chiến lược
đúng đắn và sáng tạo, là một sáng kiến lịch sử của Đảng ta trong cuộc
kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Huế đã trở thành một chiến trường nổi bật
và xuất sắc nhất. Quân và dân Quân Trị Thiên - Huế vinh dự được đón nhận
tám chữ vàng của Trung ương cục và Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam
Việt nam trao tặng: TIẾN CÔNG - NỔI DẬY - ANH DŨNG - KIÊN CƯỜNG, xứng
đáng với truyền thống vẻ vang và thành tích chói lọi của Đảng bộ cùng
quân dân Trị Thiên - Huế trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Ngày nay, chúng ta đang sống trong hoà bình xây dựng, nhưng những bài học
kinh nghiệm của trận quyết chiến chiến lược Mậu Thân 1968 vẫn còn có giá
trị rất lớn. Chúng ta hãy đem tinh thần cách mạng tiến công của Tết Mậu
Thân vào công cuộc đổi mới, xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh,
xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh toàn diện, bảo vệ Tổ quốc
thân yêu của chúng ta./.
|
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét