NHỮNG ĐẶC SẮC VỀ NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ
TRONG TỔNG TIẾN CÔNG TẾT MẬU THÂN
1968
Hoa Súng
Sau thất bại
nặng nề hai mùa khô 1965-1966 và 1966-1967, làm cho giới cầm quyền Mỹ phân hoá,
dao động, “tiến thoái, lưỡng nan” về chiến lược. Phong trào phản đối cuộc chiến
tranh xâm lược Việt Nam phát triển ngày càng rộng lớn trong lòng nước Mỹ và trên
thế giới, giới quân sự hiếu chiến vẫn tiếp tục ráo riết chuẩn bị cuộc phản công
chiến lược lần thứ ba, tình hình trên chiến trường diễn biến phức tạp, Mỹ thất
bại liên tiếp nhưng vẫn tiếp tục theo đuổi chiến tranh. Ta đã thắng lớn nhưng
chưa làm chuyển biến cục diện chiến trường, trước tình hình đó Bộ Chính trị họp
tháng 12-1967 và Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ 14 tháng 1-1968 quyết định: "Chuyển cuộc chiến
tranh cách mạng của nhân dân ta ở miền Nam sang một thời kỳ mới-thời kỳ giành thắng
lợi quyết định”[1]. Đây là nhiệm vụ hết sức nặng nề
và cấp bách, đòi hỏi quân, dân ta ở cả hai miền Nam-Bắc nỗ lực vượt bậc với
những cố gắng cao nhất, Bộ Chính trị chủ trương: "Động viên những nỗ lực
lớn nhất của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ở cả hai miền đưa cuộc chiến
tranh cách mạng của ta lên bước phát triển cao nhất, dùng phương pháp tổng công
kích, tổng khởi nghĩa để giành thắng lợi quyết định"[2].
Thực hiện quyết tâm của Trung ương Đảng, đêm 30-1-1968 (đêm giao thừa), quân và
dân ta trên chiến trường miền Nam đồng loạt tiến công và nổi dậy ở 4/6 thành phố,
37 thị xã, hàng trăm thị trấn, quân lỵ, tiến công vào hầu hết các cơ quan đầu não
ở Trung ương và địa phương của Mỹ, nguỵ, nhiều trận đánh gây trấn động nước Mỹ: Trận tiến công Toà
đại sứ Mỹ, Bộ Tổng tham mưu nguỵ ở Sài Gòn, Dinh Độc lập, Đài phát thanh, tiến
công và làm chủ Huế 25 ngày đêm, tổ chức ra chính quyền cách mạng, đánh hàng
trăm trận phản kích của địch, phối
hợp chặt chẽ với toàn miền. Ở các vùng nông thôn, lực
lượng vũ trang địa phương hỗ trợ nhân dân nổi dậy, phá tan từng mảng hệ thống kìm
kẹp của nguỵ quyền ở thôn, xã, giành thắng lợi oanh liệt cả về tiêu diệt sinh lực
địch và giành quyền làm chủ. Cuộc Tổng tiến công Tết Mậu thân 1968 để lại những
đặc sắc về nghệ thuật quân sự.
Thứ nhất,
nghệ thuật tạo thế, tạo lực, đẻ căng kéo và phân tán lực lượng địch, kéo quân
chủ lực, nhất là quân Mỹ ra khắp chiến trường toàn miền Nam, ta chủ trương mở chiến dịch tiến công hiệp đồng
binh chủng qui mô lớn ở mặt trận Đường 9-Khe Sanh, đây là một đòn chính của bộ đội
chủ lực ta, nhằm thu hút quân cơ động Mỹ, tiêu hao, tiêu diệt một bộ phận, vây
hãm và giam chân địch, tạo thế cho cho các chiến trường khác, nhất là Sài Gòn-Huế-Đà
Nẵng, trực tiếp là Huế ta đã thu hút và ghìm chân địch, tạo được thế thuận lợi để
mở thông đường vào chiến trường Trị Thiên-Huế tiến công và nổi dậy thắng lợi.
Ta đã tạo thế trận của cả ba thứ quân, ở ba vùng chiến lược,
với hai lực lượng: Quân sự, chính trị, trong đó lực lượng đấu tranh chính trị đã
góp phần không nhỏ trong nổi dậy diệt ác, trừ gian, giải tán dân vệ, giành quyền
làm chủ xã ấp, buôn làng.
Thứ hai, nghệ thuật nghi binh, lừa địch.
Nhằm nghi binh lừa địch, ta đã chủ động tiến công trước vào quân địch ở Đường
9-Khe Sanh (đêm 20 rạng 21-1-1968) làm cho tướng Oétmolen vội vã tăng cường lực
lượng chống giữ, dùng không quân ném bom vào khu vực Khe Sanh và giới tuyến tạm
thời, hàng ngày phải báo cáo về Oasinhtơn tình hình chiến sự ở Khe Sanh. Nhà
trắng và Bộ Quốc phòng Mỹ đánh giá khả năng của ta có thể tập trung lực lượng
tạo ra “một cái giống như Điện Biên Phủ” ở Khe Sanh, do cách đánh ở Khe sanh
rất quyết liệt, giống như cách đánh ở Điện Biên Phủ, làm cho địch hoang mang
cho rằng, ta tiến công, dứt điểm Khe Sanh như ở Điện Biên Phủ. Vì vậy, đã thu
hút và vây hãm 2/5 lực lượng chiến đấu Mỹ, tạo điều kiện để ta tập trung hướng
mọi nỗ lực vào đô thị, nơi tập trung cơ quan chính quyền các cấp từ trung ương
đến địa phương của nguỵ quyến Sài Gòn, các sở chỉ huy quân Mỹ và quân nguỵ, các
hoạt động tác chiến được tiến hành trước hoặc phối hợp trên chiến trường toàn Miền
đã làm cho Bộ Tư lệnh MACV ở Sài Gòn, Nhà Trắng và Lầu Năm Góc hoàn toàn bị bất
ngờ. Trong cuốn sách “Việt Nam, cuộc chiến mười nghìn
ngày” (Nxb Sự thật, H.1990, tr 148, 149) Maicơnmaclia đánh giá về cuộc bao vây
Khe Sanh của ta như sau: “Rạng sáng 21-1-1968, pháo tầm xa của Bắc Việt mở màn
cuộc bao vây Khe Sanh với sự chính xác tai hại: 300 quả đạn làm 18 lính Mỹ
chết, 40 bị thương, những quả đạn pháo ấy như rơi vào ngay Oasinhtơn. Khe Sanh
trở thành trận đánh được bàn cãi nhiều nhất trong cuộc chiến tranh này…Giônxơn
đã bắt Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân lập văn kiện được ký bằng máu cam kết
Khe Sanh sẽ không bị sụp đổ. Oétmolen cam kết giữ Khe Sanh, điều động gần 3 sư
đoàn Mỹ ra phía Bắc của Nam Việt Nam…nhưng rồi các trận đánh trong Tết Mậu Thân
làm người ta có cảm tưởng rằng Khe Sanh có vẻ như là cuộc bao vây để đấy. Nếu
vậy, thì Bắc Việt là bậc thầy trong việc nghi binh”.
Thứ ba, nghệ
thuật chọn hướng, chọn mục tiêu tiến công.
Hướng tiến công chủ yếu ta đánh thẳng vào thành phố, thị xã, thị trấn, nơi
tập trung các cơ quan đầu não Trung ương và địa phương của chính quyền Sài Gòn,
các sở chỉ huy, kho tàng, hậu cứ, sân bay, bến cảng…là cơ sở vật chất bảo đảm
cho chiến tranh, trọng điểm là Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế, nơi địch đang sơ hở. Mục
tiêu tiến công chủ yếu là các cơ quan đầu não chiến tranh Mỹ, nguỵ, các trung
tâm chỉ huy, các hậu cứ, vừa tiêu diệt sinh lực địch, vừa phá huỷ phương tiện
chiến tranh, đây là chỗ hiểm, rễ trấn động nhất. Toàn Miền ta tiến công 4 bộ tư
lệnh quân đoàn, 11/11 bộ tư lệnh sư đoàn, hầu hết các ban chỉ huy tiểu khu,
trung đoàn bộ quân nguỵ, nhiều bộ tư lệnh sư đoàn, lữ đoàn Mỹ, 45 sân bay và gần
100 cơ sở hậu cần, nhiều mục tiêu bị tiên công nhiều lần, sân bay: Tân Sơn Nhất,
Biên Hoà, Đà Nẵng, Chu Lai và nhiều tổng kho lớn: Long Bình, Nhà Bè, Liên Chiểu,
Chu Lai, Phú Bài, Plâycu, Buôn-Ma-Thuột, Qui Nhơn…Ở Huế ta đồng loạt tiến công
nhiều mục tiêu trong thành phố: Căn cứ Mang Cá, sân bay Tây Lộc, khu Đại Nội, Cột
Cờ, Ngọ Môn, Bưu điện, nhà Ngân khố, trường Quốc học, toà nhà Tỉnh trưởng…Ở Sài
Gòn ta tiến công 6/9 mục tiêu chiến lược (Bộ Tổng tham mưu nguỵ, Đài phát thanh
Sài Gòn, Dinh Độc Lập, Toà đại sứ Mỹ, Bộ tư lệnh Hải quân…), trong khi đó địch
cho rằng ta chưa có khả năng đánh vào các
trung tâm đầu não của chúng ở thành phố. Do đó, ta chọn thành phố, thị xã, thị
trấn…làm hướng, mục tiêu tiến công chủ yếu đã làm cho địch bất ngờ, hoang mang,
lúng túng, dẫn đến sai lầm về chiến lược, chiến dịch và chiến thuật.
Thứ tư, nghệ
thuật sử dụng lượng. Ta sử dụng nhiều lực lượng: Các binh đoàn chủ lực, các lực
lượng vũ trang địa phương, lực lượng chính trị quần chúng. Ở mỗi địa bàn ta sử
dụng lực lượng tác chiến phù hợp; khi tiến công đường 9-Khe Sanh ta sử dụng các
binh đoàn chủ lực đánh vào quân chủ lực Mỹ, lực lượng nòng cốt trong chiến
tranh; tác chiến ở địa bàn thành phố, thị xã, thị trấn, ta sử dụng các đơn vị
chủ lực của các quân khu, Miền, lực lực lượng vũ trang địa phương làm đòn tiến
công quân sự hỗ trở cho quần chúng nhân dân nổi dậy giành chính quyền. Phát huy
sức mạnh của các lực lượng cả quân sự và chính trị, cả chủ lực với địa phương
trong tiến công và nổi dậy, tạo thành sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân
địa phương để giành thắng lợi cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy. Thắng lợi cuộc Tổng tiến công và
nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 của quân và dân ta đánh dấu sự thất bại chiến lược “chiến
tranh cục bộ” của Mỹ, buộc Mỹ phải chuyển sang phòng ngự trên toàn chiến trường,
chấp nhận ngồi vào đàm phán với ta tại Hội nghị Pari, chủ trương phi Mỹ hoá chiến
tranh, mở đầu thời kỳ xuống thang chiến tranh, tạo một bước ngoặt lớn cho cuộc
kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quân và dân ta đi đến thắng lợi hoàn toàn.
[1]
. 2 .Trích
Nghị quyết Bộ Chính trị tháng 12-1967 được Ban Chấp hành Trung ương Đảng thông
qua tháng 1-1968, thành Nghị quyết Trung ương lần thứ 14. Tài liệu tại Viện
Lịch sử quân sự Việt
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét