NGHỆ THUẬT KẾT HỢP TIẾN CÔNG VỚI NỔI DẬY Ở THỪA THIÊN HUẾ TRONG TẾT MẬU THÂN 1968
Bàn Luận
Chiến công Xuân Mậu
Thân tiến công và làm chủ thành phố Huế 25 ngày đêm của quân và dân Thừa Thiên
- Huế được cả nước và bè bạn khắp nơi cổ vũ động viên, Đảng, Nhà nước biểu
dương khen ngợi và tặng quân dân Thừa Thiên - Huế 8 chữ vàng: “Tấn công, Nổi
dậy, Anh dũng, Kiên cường” .
Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy ở Huế, với phương thức tiến
công về quân sự và nổi dậy của quần chúng cách mạng giành chính quyền, các lực
lượng vũ trang và nhân dân Thừa Thiên-huế đã cống hiến hết sức mình để giành
thắng lợi. Trong đó, mũi tiến công quân sự diễn ra vô cùng quyết liệt trong
suốt cả quá trình chuẩn bị, tiến công và sau tiến công.
Bước vào năm 1968, để phát huy thằng lợi to lớn trong mùa khô,
song song với Mặt trận đường 9, Quân khu Thừa Thiên - tuế mở mặt trận đô thị
đánh vào trung tâm đầu não của Mỹ - ngụy.
Giữa lúc các Đoàn 5 thuộc Huế, Đoàn 4 Phú Lộc và Đoàn 6 Phong -
Quảng đang khẩn trương chuẩn bị thực hiện kế hoạch tiến công và nổi dậy của
Quân khu thì ngày 19-11-1967, Khu ủy và Quân khu nhận được chỉ thị của Bộ Chính
trị và mệnh lệnh của Bộ Quốc phòng về cuộc Tổng công kích - tổng khởi nghĩa
trên toàn miền Nam. Đối với chiến trường Thửa Thiên - Huế, Trung ương chỉ rồ:
chiến trường Thừa Thiên - Huế là một trong hai chiến trường trọng điểm của toàn
Miền.
Hướng đường 9 do chủ lực Bộ có nhiệm vụ thù hút, phân tán lực
lượng cơ động chiến lược của địch, tạo điều kiện thuận lợi cho toàn Miền. Thừa
Thiên - .Huế phải tiến cộng và nổi dậy đồng loạt đánh chiếm thành phố Huế và
các thị xã, thị trấn, đánh tiêu diệt và làm tan rã ngụy quân, ngụy quyền, giải
phóng nông thôn, thiết lập chính quyền cách mạng, tiêu diệt và tiêu hao nhiều
quân Mỹ, bao vây cô lập chúng, làm cho “chúng không ứng cứu được quân ngụy, sẵn
sàng đánh địch phản kích, đánh cho chúng bị tổn thất nặng, giữ vững chính quyền
cách mạng, tạo điều kiện tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn”.
Với tinh thần hết sức khẩn trương, ngày 3-12-1967, Thường vụ. Khu
ủy họp để bàn triển khai thực hiện chỉ thị, mệnh lệnh của Trung ương và xác
định tư tưởng chỉ đạo là: động viên toàn Đảng bộ, toàn dân, toàn quân tập trung
sức lực và trí tuệ, khẩn trương đẩy mạnh chuẩn bị về mọi mặt, bảo đảm chấp hành
triệt để chỉ thị và mệnh lệnh của cấp trên. Quyết tâm cửa Khu ủy và Quân khu
* Tập trung lực lượng chủ yếu của Quân khu cùng với lực lượng của
các đoàn, các huyện, phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng. vũ trang,
chinh trị, bí mật, bất ngờ tiến công trúng các mục tiêu, nổi dậy chiến đấu,
phục vụ chiến đấu, lập chính quyền cách mạng.
* Tiêu diệt tiêu hao nặng quân Mỹ và chơ hầu, đẩy mạnh binh địch
vận trong ngụy quân, ngụy quyền, đánh bại ý chí xâm lược và chiến lược “chiến
tranh cục bộ” của Mỹ trên chiến trường Thừa Thiên - Huế, bảo vệ và phát huy sức
mạnh chính quyền cách mạng.
* Tập trung trọng điểm là Huế, đánh vào trung tâm đầu não của ngụy
quân, ngụy quyền, căn cứ quân sự lớn của Mỹ, cắt đứt giao thông Đà Nẵng - Huế -
Quảng Trị, mở mặt trận đánh giao thông Phúc Lộc (mặt trận 4), ở Quảng Trị (mặt
trặn 7) tạo điều kiện cho mặt trận Huế (mặt trận 5) phát triển tiến công, nổi
dậy.
* Chia mặt trận Huế làm hai cánh: Bắc sông Hương và Nam sông
Hương. Cánh Bắc là hướng chính, điểm tiến công khởi nghĩa chủ yếu của mặt trận
lúc đầu. Cánh Nam là điểm tiến công khởi nghĩa quan trọng, đồng thời là hướng
chủ yếu đánh địch phản kích. Thành thị là trọng điểm nhưng nông thôn phải đồng
thời khởi nghĩa sức mạnh tiến công nổi dậy. Về thời gian của chiến dịch: Thực
hiện mệnh lệnh của Bộ Quốc phòng, sẽ tiến hành tổng tiến công và nổi dậy vào
Tết Mậu thân (31-l-1968). Trong 7 ngày đêm bảo đảm hoàn thành các mục tiêu cơ
bản, tập trung chủ yếu vào 2 ngày 3 Quyết tâm cửa Khụ ủy và Quân khu là:
* Tập trung lực lượng chủ yếu của Quân khu cùng với lực lượng của
các đoàn, các huyện, phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng. vũ trang,
chinh trị, bí mật, bất ngờ tiến công trúng các mục tiêu, nổi dậy chiến đấu,
phục vụ chiến đấu, lập chính quyền cách mạng.
* Tiêu diệt tiêu hao nặng quân Mỹ và chư hầu, đẩy mạnh binh địch
vận trong ngụy quân, ngụy quyền, đánh bại ý chí xâm lược và chiến lược l’ehiến
tranh cục bộ” của Mỹ trên chiến trường Thừa Thiên - Huế, bảo vệ và phát huy sức
mạnh chính quyền cách mạng.
* Chia mặt trận Huế làm hai cánh: Bậc sông Hương và Nam sông
Hương.
* Cánh Bắc là hướng chính, điểm tiến công khởi nghĩa chủ yếu của
mặt trận lúc đầu. Cánh Nam là điểm tiến công khởi nghĩa quan trọng, đồng thời
là hướng chủ yếu đánh địch phản kích. Thành thị là trọng điểm nhưng nông thôn
phải đồng thời khởi nghĩa sức mạnh tiến công nổi dậy. Về thời gian của chiến
dịch: Thực hiện mệnh lệnh của Bộ Quốc phòng, sẽ tiến hành tổng tiến công và nổi
dậy vào Tết Mậu thân (31-l-1968). Trong 7 ngày đêm bảo đảm hoàn thành các mục
tiêu cơ bản, tập trung chủ yếu vào 2 ngày 3 Thành đội chỉ huy trực tiếp gồm
thoảng 1.000 quân.
Ngoài ra còn có nhiều đội công tác vũ trang hoạt động trên các khu
vực nhỏ. Tất cả các lực lượng này đều được xây dựng và huấn luyện tử tháng
10-1967. Sức khỏe bộ đội trước đây giảm sút do thiếu ăn nay được tăng cường,
tiêu chuẩn bữa ăn được nâng lên. Công tác chính trị, tư tưởng được phát động
mạnh mẽ ở tất cả các đơn vị trên tinh thần: “Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua” và
“ Tiến lên toàn thắng ắt về ta!”. một loạt hoạt động quân sự được mở tử 6-1 đến
27-1 nhằm giữ chân, nghi binh đánh lạc hướng địch. Các đơn vị Đoàn 5: tập trung
diệt ác trừ gian làm trong sạch địa bàn. Bộ đội địa phương và du kích các huyện
ngoại thành (Phú Vang, Hương Thủy, Hương Trà) chặn đánh 2 cuộc càn của 4 tiểu
đoàn ngụy lên vùng núi Hươhg Trà, diệt 300 tên địch, buộc chúng phải rút lui,
bảo vệ được căn cứ đang chuẩn bị cho chiến dịch Xuân 1968. Ở mặt trận 6, bộ đội
và du kích đánh địch ở ấp Mỹ Xuân, Thủ Lễ, phá đường An Lỗ - Sịa. Tại mặt trận
4, các đơn vị bộ binh, đặc công, công binh, hỏa lực tập trung tiến công vị trí
cầu Hai, đồn An Bằng, đồn Nước Ngọt diệt 400 tên địch. Du kích các xã tiến công
các căn cứ địch trên dọc tuyến quốc lộ 1A, phá 20 ki-lô-mét thuộc đoạn Hải
Vân-Huế.
Đội hoạt động quân sự trên địa bàn Thừa Thiên thực hiện được việc
đánh phá, cắt giao thông địch, góp phần vào việc chuẩn bị hành lang, địa bàn
cho cuộc hành quân của các đơn vị chủ lực và tiếp cận các mục tiêu theo kế
hoạch tiến công.
Cuộc hành quân của 11 tiểu đoàn tập trung hướng chính vào mặt trận
Huế bắt đầu từ chiều 30-I-1968, gồm 8 tiểu đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn đặc công.
Các đội vũ trang biệt động, các đội công tác trên nhiều hướng, nhiều mũi cũng
vượt qua vòng vây dày đặc của địch tiến vào mục tiêu. 2 giờ 33 phút ngày
31-1-1968, pháo binh của ta đồng loạt nã vào những căn cứ lớn của địch làm hiệu
lệnh mở đầu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy lịch sử. Trung đoàn 6, Trung đoàn 9,
Đoàn 5, các đội đặc công, biệt động, trinh sát vũ trang, các đại đội bộ đội địa
phương, các đội công tác, du kích, tự vệ nội, ngoại thành đồng loạt tiến đánh
các mục tiêu.
Ở cánh Bắc: Đại đội 1 đặc công và Đại đội 2 bộ binh thuộc Trung
đoàn 6 tiến công Sở chỉ huy Sư đoàn 1 ngụy ở Mang Cá. Đại đội 2 (Tiểu đoàn 2
đặc công) và Đại đội 2 (Tiểu đoàn l Trung đoàn 6) ba lần đánh chiếm sân bay Tây
Lộc, tiêu hao nặng 2 tiểu đoàn địch ra phản kích. Cùng lúc Đại đội 14 đặc công
và Đại đội 3 (Tiểu đoàn 2, trung đoàn 6) tiến công vào khu Đại Nội diệt đơn vị
Hắc Báo. Đại đội 3 (Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 6) tiến chiếm Cột cờ Thành nội. 9
giờ 31-1-1968, chiến sĩ Trung đoàn 6 Nguyễn Văn Tuyên đã cắm cờ lên đỉnh cột cờ
Phú Văn Lâu. Đồng thời một số đơn vị Trung đoàn 6 đánh chiếm các mục tiêu vòng
ngoài như cầu Bạch Hổ, Kim Long, Kẻ Vạn, Văn Thánh, tiêu diệt và tiêu hao 2
tiểu đoàn địch, đánh chiếm cầu An Hòa, làng An Hòa, 5 lần đánh bại Tiểu đoàn 7
ngụy phản kích, diệt 5 xe M-113 và nhiều tên địch buộc chúng tháo chạy vế hướng
Bao Vinh để vào Mang Cá.
Tiểu đoàn 116 (Trung đoàn 9) tiến đánh vùng La Chứ, Quê Chữ, An Lưu, Bổn Trì,
Bổn Phổ, diệt 1 đại đội ngụy. Bộ đội ta cùng với các đội biệt động dẫn đường
đánh chiếm cửa Hương, cửa Thượng Tứ, cửa Đông Ba và khu phố Đông Ba. Lực lượng
Tiểu đoàn 10 (Đoàn 5) và đội biệt động từ hướng Phú Vang hành quân đánh chiếm
khu Gia Hội.
Ở cánh Nam: Tiểu đoàn 1 đặc công (Đoàn tiến công Trung đoàn 7
thiết giáp ngụy ở Tam Thai, diệt 350 tên địch, phá hủy 35 xe thiết giáp và xe
tăng.
Tiểu đoàn 4 bộ binh (Đoàn 5) đánh chiếm cầu Kho Rèn diệt sở chỉ hay canh sát dã
chiến, chiếm khu vực Ngã 6, đánh chiếm Đài phát thanh Huế.
Các đại đội của Tiểu đoàn 815 bộ binh tiến công tiêu diệt gọn đại
đội Nam Triều Tiên tại khu Tàu Lăng, đánh chiếm Phước Quả, Ty sắc tộc, Tòa tỉnh
trưởng, phá nhà lao Thừa Phủ (giải phóng 2.000 cán bộ, chiến sĩ bị địch bắt),
nhà lao Thẩm Vấn (giải phóng 107 người). Đại đội 1 thuộc Tiểu đoàn 1 đặc công
(Đoàn 5) đánh chiếm tiểu khu Thừa Thiên, khách sạn Thuận Hóa, Hương Giang và
đánh vào An Cựu diệt 2 đoàn bình định.
Tiểu đoàn 10 (Đoàn 5) đánh Tiểu đoàn 1 (Trung đoàn 3 ngụy) ở Đổng
Di và Tiểu đoàn 4 (Trung đoàn 3 ngụy) ở Tam Đông.
.Ngày 31-1 và đêm 1-2-1968, lực lượng ta đã cơ bản chiếm được thành
phố, ngăn chặn không cho địch chi viện cho Huế. Tuy vậy do ta chưa dứt điểm
được vị trí địch ở Mang Cá nên sau này địch gây cho ta nhiều khó khăn. )Từ ngày
2 đến 7-2-1968, bộ đội ta liên tiếp đánh địch phản kích, hỗ trợ nhân dân nổi
dậy, giành quyền làm chủ, tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu.
Ở các huyện ngoại thành Huế, bộ đội địa phương và dân quân du kích đánh địch,
hỗ trợ quần chúng nổi dậy, phát triển lực lượng.
Tại mặt trận 4 (Phú Lộc), các đơn vị đã hoàn thành xuất sắc nhiệm
vụ đánh cật giao thông, mở vùng giải phóng. Ở mặt trận 6 (Phong Quảng), bộ đội
địa phương và dân quân du kích đánh chiếm nhiều căn cứ địch, bao vây quận ly
Phong Điền, tiến công địch ở vùng Thanh Lương, hỗ trợ cho quần chúng nổi dậy.
Đội tự vệ khu Gia Hội được thành lập trong cuộc Tổng tiến công và
nổi dậy đã hăng hái, dũng cảm chiến đấu, bắn cháy nhiều tàu chiến địch trên
sông Hương. Tiểu đội 11 cô gái Hương Thủy đã gan dạ bám trục đường chợ Cống -
Vân Dương phối hợp với Tiểu đoàn 10 đánh địch phản kích, diệt hàng trăm Mỹ-ngụy,
bắn cháy 5 xe tăng. Từ ngày 8-2-1968, địch bắt đầu phản kích dữ dội. Chúng huy
động lực lượng tổng dự bị từ Sài Gòn và vùng I chiến thuật ra, rút một số quân
ở Đường 9 vào tiến hành phản kích, giải vây cho Huế, nâng tổng số địch tại mặt
trận Huế lên 23 tiểu đoàn (trong đó có 15 tiểu đoàn Mỹ). Cuộc chiến đấu diễn ra
hết sức ác liệt, ta và địch giành nhau từng căn nhà, từng góc phố. Bất chấp
địch đông hơn ta nhiều lần và có hỏa lực rất mạnh, quân và dân thành phố Huế
vẫn kiên cường đánh địch phản kích. Có ngày ta diệt hơn 1.000 tên địch, bắn
rơi, bắn cháy và phá hủy hàng chục máy bay và xe tăng.
Do so sánh lực lượng quá chênh lệnh, Bộ chỉ huy mặt trận quyết
định cho lực lượng rút khỏi thành phố từ 25-2-1968...
Sau 25 ngày đêm chiến đấu và làm chủ thành phố Huế, quân và dân ta
đã diệt, bắt sống, bức hàng hơn 25.000 tên địch, bắn rơi và phá hủy 255 máy
bay, bản cháy 41 tàu chiến, phá hủy 533 xe quân sự và nhiều kho đạn lớn của
địch.
Quân dân ta đã đánh mạnh, đánh trúng vào cơ quan đầu não Mỹ-ngụy, đập nát hệ
thống chính quyền ngụy từ thôn đến tỉnh. Ta đã giải phóng gần 10.000 dân, 20
xã, 271 thôn; thành lập chính quyền ở 200 thôn; chính quyền quận, huyện, xã,
phường; chính quyền cách mạng tỉnh Thừa Thiên-huế. Lực lượng vũ trang ba thứ
quân trưởng thành nhanh chóng cả về tổ chức, chỉ huy, cả về kỹ thuật, chiến
thuật, đặc biệt là đánh trong thành phố. \
Sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết, địch tập trung lực lượng
phản kích quyết liệt, chúng mở nhiều cuộc hành quân giải tỏa ra hậu cứ của ta.
Cuộc chiến đấu chống địch phản kích ác liệt diễn ra trên cả 3 vùng chiến lược.
Mặc dù gặp rất nhiều khó khăn do sự ngăn chặn của địch, như tháng 5-1968, Tiểu
đoàn 10 bị bao vây ở Vĩnh Thái (Phú Vang) phải mở đường máu đưa 500 cán bộ,
chiến sĩ thoát vòng vây lên căn cứ, bộ đội thiếu ăn, đau yếu, sức khỏe giảm sút
nhưng các lực lượng vũ trang trên chiến trường Thừa Thiên - Huế đã chấp hành
nghiêm túc kế hoạch tiến công đợt 2, phối hợp với Sài Gòn. Trong tháng 5 và
tháng 6 đã đánh hàng trăm trận càn quét của các đơn vị kỵ binh bay ở Phong Điền
- Quảng Điền, đánh vào 66 mục tiêu, căn cứ, quận ly như: ấp 5, Động Toàn, Phú
Thứ, Đồng Lâm, Mang Cá cật giao thông Thuận An - Huế, Huế - Đà Nẵng. Ở miền
núi, bộ đội ta đánh bại cuộc hành quân lớn của địch, buộc lòng rút khỏi A Lưới.
Trong 3 tháng 4, 5 và 6 năm 1968 quân dân Thừa Thiên - Huế và làm
bị thương gần 2.500 tên địch (trong đó diệt 25 đại đội Mỹ - ngụy), bắn rơi và
phá hủy 72 máy bay, 30 xe quân sự, 33 khẩu pháo địch. Mùa mưa 1968, trước tình
hình khó khăn ở chiến trường và do yêu cầu củng cố lực lượng, phần lớn các đơn
vị chủ lực Quân khu ra hậu phương củng cố. Một số đơn vị như Tiểu đoàn 10, Tiểu
đoàn 4 bộ binh; Tiểu đoàn 1, Tiểu đoàn 2 đặc công; Tiểu đoàn 323 pháo binh,
Tiểu đoàn trinh sát, các đội biệt động vẫn bền bỉ, chịu đựng gian khổ, ác liệt,
kiên trì bám trụ giữ địa bàn, giữ thế, tạo thế mới để tiến công địch, khôi phục
phong trào.
Hội nghị Khu- ủy Trị - Thiên tháng 11 năm 1968 đã đánh giá cao
thành tích trên của các đơn vị vũ trang: Suốt trong thời gian đánh Huế đã chiến
đấu hết sức dũng cảm, ngoan cường và sáng tạo, đã lập được nhiều chiến công anh
dũng; được nhân dân hết lòng ca ngợi và yêu mến. Tiếp theo đó lại liên tục
chiến đấu với địch, chịu đựng nhiều gian khổ, thiếu thốn, vẫn giữ ứng lực
lượng, phát huy truyền thống nâng cao trình độ chiến đấu, đã đánh được nhiều
trận nhỏ, vừa đánh một số trận tốt, gây cho địch nhiều tổn thất nặng
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét