ĐƯỜNG LỐI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
VỀ TÔN GIÁO LÀ ĐÚNG ĐẮN
Tôn giáo
và dân tộc có mối quan hệ khăng khít. Trong lãnh đạo cách mạng, Đảng ta
luôn khẳng định tôn giáo và công tác tôn giáo là vấn đề chiến lược, có tầm quan
trọng đặc biệt; thực hiện tốt chính sách dân tộc, tôn giáo và phát huy sức mạnh
của khối đại đoàn kết toàn dân tộc là một đảm bảo quan trọng cho thắng lợi của
sự nghiệp cách mạng Việt Nam.
Hiện nay, Việt Nam có 14 tôn giáo và
38 tổ chức tôn giáo được công nhận tư cách pháp nhân, với hơn 25 triệu tín đồ
(chiếm hơn 25% dân số); có 83.000 chức sắc, 250.000 chức việc tôn giáo; gần
25.000 cơ sở thờ tự của các tôn giáo ở hầu hết các tỉnh, thành phố trong cả
nước, đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân. Với chính sách tự do
tín ngưỡng, tôn giáo đúng đắn của Đảng, Nhà nước Việt Nam, đông đảo chức sắc,
chức việc, tín đồ các tôn giáo đã phát huy truyền thống yêu nước, gắn bó, đồng
hành cùng dân tộc; đồng bào tôn giáo và không theo tôn giáo đoàn kết, tích cực
tham gia phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói, giảm nghèo, xây dựng và củng cố
quốc phòng, đảm bảo an ninh trật tự,… góp phần làm nên những thành tựu to lớn
trong công cuộc đổi mới.
Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng,
tôn giáo và quyền tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, hết sức chăm
lo đoàn kết tôn giáo, hòa hợp dân tộc là quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà
nước ta. Tại Đại hội XII của Đảng, một lần nữa, vấn đề này được khẳng định:
“Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo,
phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo. Quan tâm và
tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt theo hiến chương, điều lệ của
tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận, theo quy định của pháp luật, đóng
góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Đồng thời, chủ động
phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn
giáo để chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc hoặc những hoạt động tín
ngưỡng, tôn giáo trái quy định của pháp luật”1. Để thực hiện tốt
chính sách tôn giáo theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XII của Đảng phải tiến
hành đồng bộ nhiều giải pháp; trước hết, cần tập trung làm tốt những nội dung
cơ bản sau:
Một là, đẩy mạnh công tác
tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm của hệ thống chính trị,
nhất là đối với cấp uỷ, đội ngũ cán bộ, đảng viên các cấp về vai trò, nhiệm vụ
công tác tôn giáo trong tình hình mới. Nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo
là công tác vận động quần chúng, nhằm giúp đồng bào các tôn giáo thực hiện tốt
phương châm: “Đạo pháp, dân tộc và chủ nghĩa xã hội”, “Nước vinh, đạo sáng”,
“Sống phúc âm, phụng sự Thiên chúa, phục vụ Tổ quốc”, gắn bó với dân tộc, xây
dựng cuộc sống “tốt đời, đẹp đạo”. Do vậy, trong thực hiện, các cấp cần phân
định rõ vai trò lãnh đạo của Đảng, công tác quản lý nhà nước của chính quyền;
không ngừng phát huy vai trò vận động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn
thể quần chúng trong việc động viên đồng bào có đạo tham gia thực hiện tốt các
phong trào thi đua yêu nước, đoàn kết, phấn đấu xây dựng quê hương, đất nước
ngày càng giàu đẹp. Để đạt hiệu quả, các ngành, các cấp cần coi trọng việc tổ
chức cho cán bộ, nhân dân nói chung, đồng bào có tín ngưỡng, tôn giáo nói riêng
học tập các quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước ta đối với công tác tôn
giáo. Đồng thời, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giải thích, giác ngộ cho tín
đồ, chức sắc, chức việc các tôn giáo hiểu được trách nhiệm của mình đối với dân
tộc và đất nước, góp phần tăng cường sự đồng thuận giữa đồng bào tôn giáo và
không theo tôn giáo cũng như giữa các tín đồ tôn giáo khác nhau. Qua đó, để
đồng bào nắm và thực hiện tốt các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, Pháp lệnh Tín
ngưỡng, tôn giáo của Nhà nước ta. Đây chính là cơ sở để nhân dân nhận rõ những
hành vi lợi dụng tôn giáo để hoạt động trái pháp luật, kích động chia rẽ nhân
dân, chia rẽ các dân tộc, gây rối, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Hai là, tập trung phát triển
kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào tôn giáo.
Giải pháp này vừa mang tính cấp bách, vừa mang tính lâu dài, có ý nghĩa sâu sắc
trong việc ổn định, đoàn kết đồng bào tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân
tộc. Đồng bào vùng sâu, vùng xa, do điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội kém
phát triển nên đời sống khó khăn, trình độ dân trí thấp. Đây thực sự là mảnh
đất thuận lợi để kẻ xấu lợi dụng truyền đạo trái phép, gieo rắc tà đạo, xây
dựng cơ sở để chống phá cách mạng, chống lại đường lối, chính sách của Đảng và
Nhà nước. Như vậy, chỉ có cải thiện, ổn định và nâng cao dần đời sống chính trị
- tư tưởng cho đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng có đông tín đồ tôn giáo thì mới
đưa được đường lối của Đảng, chính sách của Chính phủ đến với đồng bào, để đồng
bào hiểu rõ bản chất, âm mưu thâm độc của kẻ thù. Do vậy, các ngành, các cấp
cần rà soát, kịp thời bổ sung những chính sách đầu tư sát hợp với vùng đồng bào
dân tộc thiểu số, đồng bào các tôn giáo; tổ chức thực hiện đồng bộ, chặt chẽ từ
trung ương đến cơ sở, đảm bảo các loại vốn đầu tư thực sự có hiệu quả, tạo điều
kiện để đồng bào phấn đấu vươn lên thoát nghèo một cách bền vững, hòa nhập với
tiến trình đi lên của đất nước. Hiện nay, cần tập trung mọi nguồn lực để thực
hiện tốt Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 - 2020 của Chính phủ.
Trong thực hiện, cần phát huy tốt vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các
đoàn thể chính trị - xã hội cùng các tổ chức xã hội tích cực vận động đồng bào
các tôn giáo sống “tốt đời, đẹp đạo”, chấp hành tốt chủ trương của Đảng, chính
sách, pháp luật của Nhà nước, tham gia phát triển kinh tế - xã hội, nhất là
Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”. Đồng
thời, các đoàn thể tích cực phát triển đoàn viên, hội viên, tăng cường xây dựng
lực lượng nòng cốt cho phong trào quần chúng, góp phần củng cố khối đại đoàn
kết toàn dân ở địa phương. Qua đó, góp phần cùng nhân dân cả nước khắc phục khó
khăn, phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh, thực hiện
thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh.
Ba là, đào tạo, bồi dưỡng
đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo đáp ứng yêu cầu công tác quản lý nhà nước
về tôn giáo và công tác tôn giáo. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: cán bộ là cái
gốc của mọi công việc. Thực tiễn thời gian qua minh chứng: đội ngũ cán bộ giữ
vai trò hàng đầu, tác động trực tiếp đến hiệu lực quản lý nhà nước đối với hoạt
động tôn giáo và hiệu quả công tác tuyên truyền, vận động tín đồ các tôn giáo.
Do đó, để xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo bảo đảm dài hạn, khoa
học, hợp lý, công việc đầu tiên là phải tiến hành khảo sát, thống kê số lượng
cán bộ làm công tác tôn giáo, nhất là đánh giá năng lực, trình độ của độ ngũ
này. Từ đó, phân loại cán bộ theo trình độ để có kế hoạch bồi dưỡng đúng đối
tượng. Kế hoạch bồi dưỡng cán bộ cần xác định theo trình tự đối tượng dự học ở
các cấp; trên cơ sở xác định mục đích, yêu cầu của từng khóa học. Đối với những
địa phương có nhiều hoạt động tôn giáo, cần ưu tiên số lượng nhằm tăng cường
đội ngũ cán bộ hoạt động trong lĩnh vực này. Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng đội
ngũ cán bộ cơ sở, những người trực tiếp giải quyết vấn đề liên quan đến tôn
giáo ở cơ sở; nhất là ở vùng dân tộc thiểu số, vùng có vấn đề tôn giáo mới phát
sinh. Trong thực hiện phải phân công, phân cấp hợp lý công tác bồi dưỡng chuyên
môn, nghiệp vụ công tác tôn giáo, bảo đảm vừa tuân thủ Quy chế đào tạo, bồi
dưỡng của Chính phủ, vừa phù hợp với thực tiễn ở mỗi cấp, mỗi cơ sở đào tạo ở
từng vùng, từng địa phương. Quá trình đào tạo, bồi dưỡng, các cấp cần đa dạng
hóa các loại hình, nội dung phải luôn mới, sát hợp thực tế, thậm chí phải có
tính “vượt trước” thực tế, nhằm dự báo và chuẩn bị các phương án sẵn sàng nếu
có điểm nóng xảy ra. Để nội dung “thẩm thấu” vào đối tượng đào tạo, bồi dưỡng,
cần phải tích cực đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp bồi dưỡng cho phù
hợp với từng đối tượng, từng vùng tôn giáo khác nhau. Có như vậy mới xây dựng
được đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo đủ năng lực, đáp ứng yêu cầu thực
tiễn đặt ra cả trước mắt và lâu dài.
Bốn là, tạo điều kiện cho
các tổ chức tôn giáo sinh hoạt theo hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo
đã được Nhà nước công nhận theo quy định của pháp luật. Điều này thể hiện
sự kế thừa và tầm nhìn mới của Đảng đối với các tổ chức tôn giáo hợp pháp. Tạo
điều kiện cho các tôn giáo sinh hoạt chính là tạo điều kiện cho các tôn giáo
phát triển lành mạnh, tiền đề để chúng ta đoàn kết được họ vào trong khối đại
đoàn kết toàn dân tộc. Đây là cách giải quyết rất khoa học, nhạy bén trong giai
đoạn hiện nay, vừa đảm bảo tôn trọng tự do, tín ngưỡng tôn giáo, vừa kiểm soát
được sự phát triển lành mạnh theo hiến chương, điều lệ của các tổ chức tôn giáo
đã được Nhà nước công nhận theo quy định của pháp luật, vừa đoàn kết được đồng
bào tôn giáo vào trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Người có tôn giáo bao
giờ cũng có “bổn phận kép”: bổn phận với giáo hội và bổn phận với Nhà nước. Do
đó, chúng ta phải kết hợp hài hòa “bổn phận kép” đó thì mới thuyết phục được
đồng bào tôn giáo tích cực tham gia các hoạt động xã hội, cùng cộng đồng xây
dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Chức sắc, chức việc tôn giáo có ảnh hưởng
rất lớn đối với giáo dân; uy tín, tiếng nói của họ thường được đồng bào tôn
giáo tin theo. Vì vậy, cùng với công tác vận động, cảm hóa, Đảng và Nhà nước ta
cần có chính sách đãi ngộ thỏa đáng cả về vật chất lẫn tinh thần với họ và có
kế hoạch tạo nguồn phát triển lâu dài đội ngũ cốt cán tín đồ, chức sắc tôn
giáo, nhất là ở những địa bàn trọng điểm. Đồng thời, tăng cường sự lãnh đạo của
Đảng, vai trò quản lý của Nhà nước và bổ sung hoàn chỉnh hệ thống pháp luật,
pháp quy về tôn giáo.
Năm là, chủ động phòng ngừa,
kiên quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng tôn giáo để chia rẽ, phá hoại
khối đại đoàn kết toàn dân tộc và những hoạt động tôn giáo trái quy định của
pháp luật. Điều này thể hiện thái độ kiên quyết, không khoan nhượng của
Đảng và Nhà nước ta đối với những kẻ lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để phá hoại
cách mạng Việt Nam. Bởi, chỉ có như vậy mới đảm bảo được quyền tự do chân chính
của đồng bào có đạo hoạt động tôn giáo tự do, bình đẳng, đúng pháp luật; có bảo
đảm quyền ấy mới làm cho đồng bào có đạo tự giác chống lại những thế lực lợi
dụng tín ngưỡng, tôn giáo để thực hiện mưu đồ xấu. Đây là việc rất cấp thiết
trong tình hình hiện nay, khi mà các tôn giáo và các hiện tượng tôn giáo mới
phát triển rầm rộ, khó kiểm soát. Các địa phương cần phát hiện sớm và chủ động
đấu tranh với những hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng trái pháp luật, đạo đức,
thuần phong mỹ tục,…; đồng thời, hướng họ đi vào hoạt động lành mạnh, không vi
phạm pháp luật. Để đạt hiệu quả, cấp ủy và chính quyền các cấp cần thực hiện
tốt Quy chế Dân chủ ở cơ sở; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an
ninh nhân dân vững chắc. Đồng thời, làm tốt công tác vận động quần chúng, tranh
thủ đội ngũ già làng, chức sắc, chức việc, đội ngũ cốt cán vùng đồng bào dân
tộc thiểu số, vùng có đông đồng bào theo đạo. Kiên quyết đấu tranh với các hành
vi lợi dụng vấn đề tôn giáo để chống phá cách mạng, vi phạm pháp luật Nhà nước.
Cùng với đó, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền đối ngoại về dân tộc, tôn giáo,
giúp cho cộng đồng thế giới hiểu rõ chính sách tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn
giáo của Đảng, Nhà nước ta và thực tế tình hình đời sống, sinh hoạt tín ngưỡng,
tôn giáo ở Việt Nam. Làm tốt công tác này sẽ góp phần giữ vững ổn định chính
trị, xã hội và huy động sự đóng góp của đồng bào các tôn giáo trong củng cố,
tăng cường đại đoàn kết toàn dân tộc.
Là một bộ phận quan trọng trong cộng
đồng dân tộc, đồng bào các tôn giáo luôn gắn bó, đoàn kết, đồng hành với đồng
bào cả nước, phấn đấu vì lợi ích chung của dân tộc, của cách mạng. Mong muốn
của đại bộ phận tín đồ tôn giáo là xóa bỏ áp bức, bất công, xây dựng một cuộc
sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Điều mong muốn của đồng bào có đạo cũng là mục
tiêu, lý tưởng của sự nghiệp cách mạng do Đảng ta lãnh đạo. Vì thế, chúng ta cần
nhận thức đúng và thực hiện tốt chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước để không
ngừng tăng cường, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
CHÂN LÝ
1 - ĐCSVN - Văn kiện Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb CTQG, H. 2016, tr.165.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét