TUYÊN
NGÔN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VỚI CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CNXH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Trên thế giới đã có rất nhiều sự đổi thay,
chỉ có một điều không thay đổi đó là sự khát khao cháy bỏng của các giai cấp
cần lao và loài người nói chung được hoàn toàn giải phóng khỏi sự bóc lột, áp
bức và bất công, dù dưới bất cứ hình thức và mức độ nào.
Cho đến nay, dù 170 năm đã trôi qua, Tuyên
ngôn của Đảng Cộng sản do C.Mác và Ph.Ăngghen khởi thảo vẫn rực sáng với tư
tưởng vĩ đại của nó - tư tưởng giải phóng các giai cấp và tầng lớp cần lao. Và
nói rộng ra là giải phóng toàn bộ xã hội, giải phóng loài người khỏi mọi sự áp
bức, bất công. Tuyên ngôn ngay từ lúc ra đời và kể từ đó trở đi luôn luôn
là bản hiệu triệu hào hùng và ngọn cờ chiến đấu đầy khí phách cho tư tưởng vĩ
đại ấy. Tuyên ngôn đã trải qua hơn một thế kỷ rưỡi mà vẫn tồn tại, không chỉ
như một văn kiện có tính lịch sử mà còn là ngọn đuốc soi đường cho cả hiện tại
và tương lai.
Bất kể ai, bất cứ lúc nào, dù đứng về phía
này hay phía khác, ủng hộ hay phản đối Tuyên ngôn cũng đều phải thừa nhận một
sự thật lịch sử không gì có thể chối cãi được. Đó là Tuyên ngôn đã thức tỉnh,
tập hợp giai cấp công nhân và những người lao động làm thuê khác thành một lực
lượng to lớn chống sự áp bức, bóc lột, giành được những quyền lợi và quyền lực
ngày càng quan trọng. Nếu như giữa thế kỷ XIX, chủ nghĩa cộng sản còn là một
“bóng ma” ám ảnh châu Âu, như các thế lực của châu Âu cũ từng rêu rao, thì với
sự ra đời của Tuyên ngôn, C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ rõ rằng, cái “bóng ma” ấy
đã thực sự trở thành một thế lực cụ thể, và cái thế lực ấy cứ ngày một lớn dần
lên, trở thành những phong trào cách mạng hừng hực khí thế, những cuộc cách
mạng bùng nổ dữ dội và cả những quyền lực nhà nước được thiết lập trên hành
tinh chúng ta. Từ đứa con đầu lòng là Công xã Pa-ri năm 1871, đến sau chiến
tranh thế giới thứ nhất là sự ra đời của Liên Xô và một số nhà nước xã hội chủ
nghĩa khác, rồi đến sau chiến tranh thế giới thứ hai (tức khoảng 100 năm sau
Tuyên ngôn), với thắng lợi của hàng loạt cuộc cách mạng kiểu mới ở cả châu Âu,
châu Á và Mỹ La tinh, chủ nghĩa xã hội đã trở thành một hệ thống thế giới.
Cách mạng xã hội chủ nghĩa thắng lợi dẫn đến
sự thành lập các nhà nước xã hội chủ nghĩa, phản ánh quy luật khách quan sự
phát triển của xã hội loài người. Như Tuyên ngôn từng dự báo, một chế độ kinh
tế - xã hội tiến bộ hơn sẽ thay thế cho chế độ kinh tế - xã hội đã lỗi thời.
Cuộc đấu tranh giữa hai hệ thống xã hội thế giới - tư bản chủ nghĩa và xã hội
chủ nghĩa - trải qua một thời kỳ chiến tranh lạnh dai dẳng, đã không dẫn tới sự
thắng lợi lớn hơn nữa, mà trái lại, sự thất bại tạm thời và trên diện rộng của
chủ nghĩa xã hội hiện thực, tức là sự tan rã của Liên Xô và hệ thống xã hội chủ
nghĩa ở Đông Âu, đi liền với nó là thoái trào của phong trào cộng sản và công
nhân trên thế giới.
Có sự cắt nghĩa rằng, đó là một tất yếu lịch
sử, nhưng sự cắt nghĩa ấy hoàn toàn không có có sở. Tất yếu của lịch sử chỉ có
thể là xã hội tư bản chủ nghĩa tiến lên xã hội xã hội chủ nghĩa và xã hội xã
hội chủ nghĩa, nấc thang cao hơn, sẽ thay thế cho xã hội tư bản chủ nghĩa chứ
không phải ngược lại. Ở đây, sự tất yếu lịch sử đã không còn là tất yếu nữa bởi
hành động của con người có những mặt không phù hợp với quy luật phát triển. Các
tầng lớp nhân dân đứng lên làm cách mạng, đánh đổ các chế độ áp bức, lập nên
chính quyền của nhân dân; cũng đã có nhiều đóng góp vào việc tìm tòi, xây dựng
một xã hội mới theo tư tưởng vĩ đại của Tuyên ngôn là giải phóng giai cấp và
giải phóng loài người. Nhưng những sai lầm và khuyết điểm trong vận dụng máy
móc các nguyên lý của chủ nghĩa xã hội khoa học về cách mạng xã hội chủ nghĩa,
đặc biệt là trong xây dựng chủ nghĩa xã hội, về chính quyền nhà nước, cũng như
về quản lý kinh tế - xã hội, sự bất cập trong việc nắm bắt thực tiễn cuộc sống
đang thay đổi từng giờ từng phút, làm cho sự trì trệ kéo dài, đời sống vật chất
và tinh thần của nhân dân chậm được cải thiện, cộng với sự phá hoại về nhiều
mặt của các thế lực đế quốc chủ nghĩa, tất cả đã dẫn đến sự sụp đổ như chúng ta
đã từng thấy.
Điều cần nhận rõ, đây là sự sụp đổ của những
mô hình xã hội chủ nghĩa cụ thể chứ không phải là sự sụp đổ của chủ nghĩa xã
hội, với tư cách là một nấc thang phát triển cao hơn chủ nghĩa tư bản. Sự thật
là, trên thế giới ngày nay, vẫn còn trụ vững và phát triển không ngừng của
nhiều nước xã hội chủ nghĩa, bao gồm hàng tỉ dân, trong đó Trung Quốc và Việt
Nam là những quốc gia đang tiến hành cải cách và đổi mới rất mạnh mẽ và đúng
hướng. Sự thật là trong các nước mà chế độ xã hội chủ nghĩa tan rã, các lực
lượng xã hội chủ nghĩa vẫn tồn tại và quyết liệt đấu tranh để giành lại thế đứng.
Sự thật là ở sân sau của Mỹ, hàng loạt nước Mỹ La-tinh đã tuyên bố đi theo con
đường chủ nghĩa xã hội. Sự thật là ở các nước tư bản chủ nghĩa phát triển,
phong trào cộng sản và phong trào công nhân vẫn không ngừng mở ra những cuộc
đấu tranh, và ở đó, tư tưởng xã hội chủ nghĩa, dù là chủ nghĩa xã hội - dân
chủ, cũng đã từng giành thắng lợi trong cuộc tranh chấp với các thế lực từ phía
hữu. Còn một sự thật cần nói là, chủ nghĩa tư bản hiện đại, sở dĩ tiếp tục tạo
được sức sống mới là bởi nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân tiếp nhận
sự công kích của chủ nghĩa xã hội và sửa đổi một phần những khuyết tật và lực
cản trong lòng chúng.
Cái nghịch lý trong giai đoạn hiện nay là mặc
dù cách mạng đang gặp khó khăn, rất nhiều học giả không hề đứng trong hàng ngũ
những người mácxít, đều khách quan nhìn nhận rằng học thuyết Mác vẫn là đỉnh
cao của trí tuệ loài người, và rằng học thuyết đó có sức sống dồi dào không chỉ
trong các thế kỷ XIX, XX đã qua mà cả trong thế kỷ XXI này nữa. Trong khi có
một số người, từng mang danh cách mạng nay dao động trước tình hình đang biến
đổi, đã trở cờ, lớn tiếng công kích chủ nghĩa Mác đã lỗi thời, công khai “sám
hối” và đã “chia tay ý thức hệ”, rốt cuộc rơi vào vũng bùn của chủ nghĩa cơ
hội, lặp lại như vẹt những gì các “hiệp sĩ” tư bản phản động đã từng nói và
đang nói.
Tuyên ngôn Đảng Cộng sản ra đời giữa lúc chủ
nghĩa tư bản đã phát triển ở mức cao, giữ quyền thống trị ở châu Âu và bắt đầu
bành trướng thế lực sang châu Phi và châu Á bằng các cuộc chinh phục. Vào thời
điểm này, Tuyên ngôn không chỉ là bản cáo trạng đanh thép dân chủ chủ nghĩa tư
bản mà còn là hồi kèn xung trận cho những cuộc chiến đấu cách mạng để giải
phóng các giai cấp cần lao, các dân tộc bị áp bức và cả loài người. Nhiều cuộc
cách mạng nổ ra và giành thắng lợi mà cao trào là sự hình thành hệ thống xã hội
chủ nghĩa thế giới sau chiến tranh thế giới thứ hai, như đã nói ở phần trên. Vì
vậy, hoàn toàn đúng khi chúng ta nói Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản là tuyên ngôn
của thời đại.
So với một thế kỷ rưỡi trước, thời đại ngày
nay đã khác xa. Dưới các chế độ kinh tế - xã hội khác nhau, lực lượng sản xuất
trên toàn thế giới đã tăng lên nhảy vọt, của cải vật chất làm ra dồi dào, nếu
có một quan hệ sản xuất phù hợp, một chế độ phân phối công bằng và hợp lý thì
đủ để nuôi sống tốt hơn 6 tỉ người trên hành tinh chúng ta. Như nhiều người
nhận xét, ngày nay nền văn minh công nghệ thông tin đã dần dần thay thế nền văn
minh công nghiệp cơ khí, kinh tế tri thức đã xuất hiện. Toàn cầu hóa kinh tế
không hoàn toàn là sự bành trướng toàn cầu của chủ nghĩa tư bản mà là sự hội
nhập của nhiều nền kinh tế thuộc nhiều chế độ xã hội khác nhau, trong đó vừa có
cạnh tranh vừa có hợp tác hòa bình để phát triển, mà đây lại là trào lưu chủ
yếu. Với lực lượng sản xuất phát triển cao, tuy vẫn là một chế độ bóc lột nhưng
không thể và cũng không còn cần thiết dùng những thủ đoạn dã man và tàn bạo như
trước. Chủ nghĩa xã hội hiện thực cũng kiên quyết tự đổi mới, tự cải cách để
phát huy ngày càng tốt hơn sức mạnh và bản chất tốt đẹp của mình. Các dân tộc
ngày càng ý thức được con đường phát triển độc lập và tiến bộ.
Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản là tác phẩm kinh
điển chủ yếu của chủ nghĩa xã hội khoa học. Những nguyên lý C.Mác và Ph.Ăng
ghen trình bày trong tác phẩm là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho toàn bộ
phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Trải qua mọi thử thách, hơn một thế
kỷ qua, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, nhiều vấn đề mới đặt ra đòi
hỏi giải quyết nhưng chủ nghĩa Mác không hề lỗi thời. Tuyên ngôn của Đảng Cộng
sản đã đặt nền tảng tư tưởng cho những vấn đề về Đảng và xây dựng Đảng. Những
tư tưởng đó có ý nghĩa thiết thực trong công tác xây dựng Đảng của Đảng ta.
Đối với cách mạng Việt Nam, Tuyên ngôn nói
riêng và chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung cùng với Tư tưởng Hồ Chí Minh luôn
luôn là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam dẫn đường. Trên cơ sở giải quyết đúng
đắn mối quan hệ giữa giải phóng giai cấp và giải phóng dân tộc, lãnh tụ Hồ Chí
Minh và Đảng ta đã vạch ra đường lối chiến lược giải phóng dân tộc bằng cách
mạng vô sản mà Mác và Ăngghen đã chỉ ra trong Tuyên ngôn; đã vận dụng tư tưởng
cách mạng không ngừng của Mác để xây dựng đường lối cách mạng dân tộc dân chủ
nhân dân tiến lên CNXH; đã thấm nhuần tinh thần biện chứng của Tuyên ngôn để
năng động, sáng tạo trong xây dựng thành công trong xây dựng xã hội mới và
trong công cuộc đổi mới hơn hai thập kỷ vừa qua.
Nắm vững tư tưởng cách mạng vô sản triệt để,
tinh thần nhân đạo cộng sản cao cả và phương pháp biện chứng khoa học của Mác -
Ăngghen vĩ đại trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản bất hủ, công tác tư
tưởng của chúng ta trong giai đoạn hiện nay cần được đổi mới tích cực, toàn
diện cả về nội dung và phương thức. Ở đây, cần bảo đảm nguyên tắc tính khách
quan, khoa học sâu sắc kết hợp với tính sinh động, thuyết phục cao. Một mặt cần
chống xu hướng chủ quan hóa, đơn giản hóa, áp đặt, mà thực chất là quan liêu và
“tả” khuynh muốn đem lại những điều chỉ một số ít người làm được buộc tất cả
mọi người phải làm, đem những điều chỉ làm được ở một số thời điểm, hoàn cảnh
buộc phải làm trong mọi lúc, mọi nơi… Mặt khác cũng cần chống xu hướng cơ hội,
thỏa hiệp, hữu khuynh trước thực tế có nhiều biến động phức tạp, lắm nguy cơ
thách thức. Cần đưa công tác này hướng tới khối đông đảo quần chúng, làm lay động
được nhận thức của hàng triệu người, cổ vũ các tầng lớp nhân dân ra sức học tập
quán triệt đường lối chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước; phấn khởi
nhiệt tình lao động sản xuất, đưa đất nước ta, dân tộc ta vào con đường phát
triển nhanh, mạnh, bền vững, con đường hiện thực hóa lý tưởng cộng sản chủ
nghĩa mà Mác - Ăngghen đã vạch ra trong Tuyên ngôn.
Vấn đề của chúng ta hiện nay là phải bằng vũ
khí lý luận bảo vệ hệ tư tưởng XHCN. Muốn vậy, trong nghiên cứu lý luận phải có
sự phát triển, liên hệ thực tiến để không sa vào giáo điều. Nhưng nếu chúng ta
vứt bỏ những nguyên lý gốc thì có khác gì kéo sập toà nhà cũ xuống để thay toà
nhà mới khác. Vấn đề đặt ra không phải kéo sập toà nhà cũ xuống mà thay bằng
toà nhà mới khác mà phải làm thế nào đó để cho toà nhà cũ còn nền móng vững
chắc, “nâng cấp” cho nó đẹp hơn, vững chãi hơn. Trên tinh thần đó, chúng ta tìm
cái tinh tuý của chủ nghĩa Mác - Lênin để vận dụng trong hoàn cảnh mới. Dù sao,
cũng phải kiên trì giữ lấy CNXH khoa học, một vấn đề tưởng như cũ nhưng lại
đang là mới đối với các nước Mỹ la tinh. Những nước này đã bắt đầu nhìn ra cái
“độc tài mới” của “chủ nghĩa tư bản (đế quốc) mới”. Dù sao, chủ nghĩa tư bản
(đế quốc) mới còn rất mạnh, sức mạnh của họ về kinh tế và quân sự không thể xem
thường. Ai đó cho rằng, nó sẽ sụp đổ trong ngày một ngày hai lại là không
tưởng.
Có người nói CNXH đang đứng trước ngã ba
đường, đi về đâu và bằng phương tiện nào trong lúc này là cả một sự tính toán
công phu. Có điều là những gì mà C.Mác và Ph.Ăngghen đã nêu trong “Tuyên ngôn
Đảng Cộng sản” vẫn là kim chỉ nam cho đường lối của chúng ta. Củng cố và phát
triển hệ tư tưởng XHCN trong hoàn cảnh mới là nhiệm vụ của những nhà hoạch định
chính sách và những nhà nghiên cứu lý luận.
Xã hội xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Nhà nước và
nhân dân ta xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn
minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản
xuất hiện đại và quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng
sản xuất; có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người được giải
phóng khỏi áp bức, bất công, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, phát triển
toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ,
giúp nhau cùng tiến bộ; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân,
do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản; có quan hệ hữu
nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”.
Nắm vững tư tưởng cách mạng vô sản triệt để,
tinh thần nhân đạo cộng sản cao cả và phương pháp biện chứng khoa học của Mác -
Ăngghen trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, công tác tư tưởng của
chúng ta trong giai đoạn hiện nay cần được đổi mới tích cực, toàn diện cả về
nội dung và phương thức. Ở đây, cần bảo đảm nguyên tắc tính khách quan, khoa
học sâu sắc kết hợp với tính sinh động, thuyết phục cao. Một mặt cần chống xu
hướng chủ quan hóa, đơn giản hóa, áp đặt rập khuôn, máy móc mà thực chất là
biểu hiện của quan liêu và “tả” khuynh. Mặt khác, cũng cần kiên quyết đấu tranh
chống xu hướng cơ hội, thỏa hiệp, hữu khuynh đang có nhiều diễn biến phức tạp
hiện nay.
Công Bằng
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét