KIÊN ĐỊNH NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA
ĐẢNG LÀ BẢO VỆ CHỦ NGHĨA MÁC – LÊ NIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
Với việc phát hiện ra quan niệm duy vật về lịch sử và học
thuyết giá trị thặng dư, chủ nghĩa Mác đã trở thành lý luận khoa học, cách
mạng, chỉ ra con đường đấu tranh cho mục tiêu giải phóng giai cấp vô sản. Trên
thực tế, chủ nghĩa Mác – Lênin đã được các Đảng Cộng sản, trong đó có Đảng Cộng
sản Việt Nam lấy làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của mình. Thế
nhưng, các thế lực thù địch vẫn làm ngơ trước thực tại đó, đưa ra những luận
điệu vô căn cứ để tấn công, xuyên tạc nhằm thủ tiêu chủ nghĩa Mác – Lênin. Vậy,
bộ mặt thật của những người đó là gì?
Trước
sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu; sự đổi
mới, thích nghi của chủ nghĩa tư bản hiện đại, cộng với những biểu hiện tiêu
cực trong quá trình đổi mới đất nước, một số người đã dao động, giảm lòng tin
vào chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng
sản và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam. Với cái gọi là “kiến
nghị tâm huyết” với Đảng, Nhà nước, một số người nhân danh “cấp tiến” đề xuất
giải pháp nhằm “thay máu cho hệ tư tưởng” và “sửa lại chủ nghĩa Mác – Lênin”
cho hợp thời và sát với thực tế Việt Nam. Có kẻ còn “sám hối” rằng, cả đời mình
đã tin theo một học thuyết sai lầm, đi theo một con đường không đúng nên “rơi
vào tình cảnh éo le, bế tắc”, “cùng đường”; nay nhận thức lại, “thấy chủ nghĩa
tư bản là lời giải đáp đầy đủ cho mọi vấn đề đặt ra trong cuộc sống của loài
người”. Vì vậy, phải “giã từ chủ nghĩa xã hội” để đi theo chủ nghĩa tư bản.
Gần đây, trên một số hội
thảo quốc tế, người ta bàn nhiều về tương lai của học thuyết Mác. Phần đông các
học giả đều thừa nhận giá trị khoa học, cách mạng và sự cần thiết phải có học
thuyết Mác trong thế giới hiện đại. Tuy nhiên, cũng có quan điểm cho rằng, “chủ
nghĩa Mác – Lênin chỉ là của quá khứ”, “chỉ phù hợp với thế kỷ XIX, XX; không
phù hợp với thời đại ngày nay”, hay “chủ nghĩa Mác – Lênin đã chết cùng với sự
sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu”. Trắng trợn hơn, họ còn
xuyên tạc: “C.Mác và V.I.Lênin là những nhà xã hội duy tâm, siêu hình và không
tưởng”, học thuyết Mác chỉ là “sự sao chép sống sượng” chủ nghĩa xã hội không
tưởng Pháp, kinh tế chính trị học Anh và triết học cổ điển Đức; là “sản phẩm
lai tạo”, “hỗn hợp” mang tính chủ quan, áp đặt, “được nặn ra từ những cái đầu
thiển cận của C.Mác và Ph.Ăngghen”.
Ở nước ta, lợi dụng các
cuộc hội thảo khoa học, một số người đã đưa ra nhiều lý lẽ để phê phán, phủ
nhận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ nhận con đường độc lập
dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta đã chọn; xuyên tạc đường
lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta. Điều hết sức nguy hiểm là các quan điểm
sai trái này bằng nhiều hình thức đã được tán phát, lan truyền rất nhanh; gây
hoang mang, hoài nghi cho nhiều người, để lại những hậu quả không thể xem
thường trong xã hội ta. Bằng cách này, họ muốn “chuyển lửa về quê nhà”, tạo nên
sự “diễn biến bên trong”, trước hết là diễn biến về nhận thức, tư tưởng; từ đó
dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” theo quỹ đạo chiến lược “Diễn biến hòa
bình” của các thế lực thù đich.
Chúng ta không hề ngạc
nhiên trước những quan điểm xét lại chủ nghĩa Mác – Lênin. Vì kể từ khi chủ
nghĩa Mác ra đời cho đến nay, những “điệp khúc” này đã được “tua” nhiều lần ;
chỉ có điều nó được thể hiện bởi các “ngữ điệu” khác nhau qua các kiểu loại kẻ
thù “lớn nhỏ” của C.Mác. Vì sao họ lại chống chủ nghĩa Mác một cách điên cuồng
và quyết liệt như vậy? Hẳn là họ ý thức rất rõ sức sống mãnh liệt cũng như sự
nguy hiểm của chủ nghĩa Mác đối với sự tồn tại, phát triển và lợi ích của họ,
nhất là khi chủ nghĩa Mác – Lênin trở thành hệ tư tưởng thống trị của giai cấp
công nhân, nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của các Đảng Cộng sản,
trong đó có Đảng Cộng sản Việt Nam. Hẳn là họ hiểu rằng, chừng nào còn chủ
nghĩa Mác – Lênin thì chừng ấy còn có Đảng Cộng sản, còn có phong trào công
nhân và cuộc đấu tranh của giai cấp này tất yếu sẽ tiêu diệt họ; chủ nghĩa xã
hội và chủ nghĩa cộng sản tất yếu sẽ được xây dựng thành công.
Kể từ năm 1930, đặc biệt
là sau Đại hội lần thứ VII (năm 1991) đến nay, Đảng và nhân dân ta luôn khẳng
định: Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ
nam cho hành động của Đảng và của cách mạng Việt Nam. Ngay sau đó, các thế lực
thù địch luôn có những bài viết xuyên tạc, vu khống, bác bỏ chủ nghĩa Mác –
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta.
Chúng không chỉ phê phán, phủ nhận các luận điểm, mà còn xuất phát từ cội
nguồn, lịch sử hình thành, phát triển của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh để phê phán. Vậy họ là ai, bộ mặt thật của những người này thế nào?
Câu trả lời sẽ từ sự phân tích bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác –
Lênin.
Chủ nghĩa Mác ra
đời vào những năm 40 của thế kỷ XIX ở nước Đức, do C.Mác và Ph.Ăngghen sáng
lập. Vào thời điểm đó, lực lượng sản xuất của chủ nghĩa tư bản phát triển rất
mạnh mẽ, ưu thế của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa được khẳng định và
cách mạng tư sản đã giành thắng lợi. Thế nhưng, ngọn cờ “tự do, bình đẳng, bác
ái” và những lời hứa của giai cấp tư sản trong quá trình cách mạng, lúc này chỉ
còn lại là “chiếc bánh vẽ”. Thành quả và lợi ích của cuộc cách mạng tư sản đã bị
giai cấp tư sản chiếm đoạt mà không hề đếm xỉa đến lợi ích của những người bạn
đồng minh là giai cấp vô sản. Bị lừa dối và phản bội, giai cấp vô sản đã thức
tỉnh và họ hiểu rằng, kẻ thù của mình không phải là “máy móc” mà chính là giai
cấp tư sản.
Vì vậy, họ đã liên
hợp lại, kiên quyết đứng lên đấu tranh đòi lại quyền sống cho mình. Cuộc đấu
tranh “một mất một còn” của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản ngày càng
quyết liệt. Sống trong thời đại ấy, C.Mác và Ph.Ăngghen tận mắt chứng kiến các
biến cố lịch sử và phát hiện ra vai trò, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân
– những người “đào huyệt” chôn chủ nghĩa tư bản và xây dựng chủ nghĩa xã hội,
chủ nghĩa cộng sản. Các ông đã xây dựng lý luận khoa học, cách mạng để trang bị
cho giai cấp công nhân. Tất cả những điều nêu trên chỉ diễn ra trong thập kỷ
thứ ba và thứ tư của thế kỷ XIX, khi mà C.Mác và Ph.Ăngghen đang ở độ tuổi xung
mãn; khi những điều kiện khách quan đã phát triển và đạt độ chín muồi, tác động
trực tiếp, cho phép các ông tiếp thu, kế thừa và xây dựng học thuyết khoa học,
cách mạng. Đó cũng là điều giải thích rõ: Tại sao các bậc tiền bối của C.Mác và
Ph.Ăngghen lại không thể phát hiện ra vai trò, sứ mệnh lịch sử của giai cấp
công nhân và họ không thể xây dựng nên học thuyết khoa học, cách mạng cho giai
cấp vô sản, mặc dù họ chỉ hơn C.Mác 10 – 15 tuổi.
Như vậy, chủ nghĩa Mác ra đời như một tất yếu lịch sử, từ
các điều kiện khách quan và các nhân tố chủ quan đã phát triển chín muồi chứ
kh«ng ph¶i “được nặn ra từ những cái đầu thiển cận, mang nặng tính chủ quan, áp
đặt; cũng không phải là “sự ba hoa của kẻ làm trò ảo thuật”, mà là sự chứng
minh bởi lịch sử của khoa học hiện đại. Để xây dựng học thuyết của mình, C.Mác
và Ph.Ăngghen đã kế thừa những tinh hoa trí tuệ trong lịch sử tư tưởng nhân loại.
V.I.Lênin viết: Lịch sử triết học và lịch sử khoa học xã hội chứng tỏ hết sức
rõ rằng chủ nghĩa Mác không có gì giống “chủ nghĩa bè phái” hiểu theo nghĩa một
học thuyết đóng kín và cứng nhắc, nảy sinh ở ngoài con đường
phát triển vĩ đại của văn minh thế giới. Người còn chỉ rõ, học thuyết của C.Mác
“ra đời là sự thừa kế thẳng và trực tiếp những học thuyết của
các đại biểu xuất sắc nhất trong triết học, trong kinh tế chính trị học và
trong chủ nghĩa xã hội.
Về điều này, bản thân
C.Mác, từ năm 1846, trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức”, đã nói rõ. 40 năm sau,
tức là vào năm 1886, trong tác phẩm: “L.Phoiơbắc và sự cáo chung của triết học
cổ điển Đức”, Ph.Ăngghen đã giải đáp tường tận nguồn gốc lý luận của chủ nghĩa
Mác, nói rõ đó là sự kế thừa những giá trị của các bậc tiền bối và đã độc lập
nêu ra các quan điểm của mình như thế nào. Đồng thời, coi đó là “việc làm danh
dự” rất cần thiết để “trả món nợ lương tâm” mà 40 năm trước C.Mác đã trình bày
trong “Hệ tư tưởng Đức”, nhưng thời đó, tác phẩm chưa được xuất bản. Gọi là đọc
chủ nghĩa Mác, hiểu chủ nghĩa Mác mà lại không rõ những chi tiết này, để rồi
coi chủ nghĩa Mác là “học thuyết đẻ non”, “là sản phẩm sống sượng”, là “sự sao
chép học thuyết của Aristốt, Ricacđô; Xanhximông, Hêghen, Phoiơbắc” thì rõ ràng
đó là sự xuyên tạc trắng trợn.
C.Mác và Ph.Ăngghen đã
nghiên cứu và kế thừa kinh tế chính trị học Anh, chủ nghĩa xã hội không tưởng
Pháp và triết học cổ điển Đức, đặc biệt là triết học của Hêghen và Phoiơbắc.
Ph.Ăngghen cho rằng, C.Mác vĩ đại bởi vì ông “biết đứng trên vai của những
người khổng lồ”, đó là Đ.Ricacđô, A.Smít, Xanhximông, Phuriê, Hêghen và
Phoiơbắc…, không có các vị ấy, chắc chắn không thể có chủ nghĩa Mác. Chính “tư
tưởng tiến bộ” và “hạt nhân hợp lý” trong học thuyết của các bậc tiền bối đã
được C.Mác kế thừa, bằng cách lọc bỏ 9 phần bã, lấy một phần chất để xây dựng
nên học thuyết khoa học, cách mạng của mình. Với tính cách là những bộ phận cấu
thành chủ nghĩa Mác, kinh tế chính trị học, chủ nghĩa xã hội khoa học và chủ
nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử đều có sự biến đổi về chất
so với nguồn gốc của chúng. Vì thế, coi chủ nghĩa Mác như “sự lắp ghép cơ học
của kinh tế chính trị học Anh, chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp và triết học
cổ điển Đức” là không hiểu đúng bản chất chủ nghĩa Mác./.
Sự Thật
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét