Thứ Ba, 6 tháng 2, 2018

TUYÊN NGÔN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN – CÔNG TRÌNH TỔNG KẾT VIỆC XÂY DỰNG QUAN NIỆM DUY VẬT BIỆN CHỨNG VỀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA XÃ HỘI.
Được viết vào cuối năm 1847 đầu 1848, Tuyên ngôn không những xứng đáng được xem là văn kiện có tính chất cương lĩnh đầu tiên của phong trào cộng sản thế giới, mà còn là công trình tập trung trình bày một cách nhất quán và gần như hoàn chỉnh về những quan niệm xã hội và triết học của C.Mác và F.Ăng ghen. Ngoài những vấn đề có tính nguyên lý đã được thể hiện rõ nét trong Tuyên ngôn, ở đây chúng ta còn thấy rõ những quan niệm của các ông về khả năng áp dụng của nó đối với sự phát triển của xã hội. Với chúng ta, đó là những cơ sở để khai thác, vận dụng vào sự nghiệp xây dựng CNXH hiện nay.
Trong lời tựa viết cho Bản tiếng Đức năm 1872 (24/6/1872) các ông đã nhấn mạnh: “ Mặc dù hoàn cảnh đã thay đổi nhiều trong hai mươi năm qua, nhưng cho đến nay, xét về đại thể, những nguyên lý tổng quát trình bày trong {Tuyên ngôn } này vẫn còn hoàn toàn đúng. Ở đôi chỗ, có một vài chi tiết cần phải xem lại. Chính ngay tuyên ngôn cũng đã giải thích rõ rằng bất cứ ở đâu và bất cứ lúc nào, việc áp dụng những nguyên lý đó cũng phải tuỳ theo hoàn cảnh lịch sử đương thời, và do đấy không nên quá câu nệ vào những biện pháp cách mạng nêu ra ở cuối chương II. Đoạn này, ngày nay mà viết lại thì về nhiều mặt, cũng phải viết khác đi ”.(1) Chúng ta biết rằng, khi viết những dòng này các ông đã chính thức xác lập một quan điểm rất biện chứng về cách tiếp cận Tuyên ngôn. Điều đáng nói ở đây chính là C.Mác và F.Ăng ghen đã bắt đầu và kết thúc bằng quan niệm rằng những người cộng sản không đề ra những nguyên tắc đặc biệt nào để làm cho phong trào vô sản vừa khuôn vào đó. Bản thân lý luận của họ không phải dựa trên những ý niệm hoặc nguyên lý do một cá nhân nào đó bịa ra hay là phát minh ra mà chỉ có thể là biểu tượng chung của những quan hệ hiện thực của cuộc đấu tranh giai cấp đang diễn ra, là biểu tượng của cuộc vận động lịch sử đang diễn ra trước mặt chúng ta. Chính vì thế, ở góc độ nghiên cứu về sự phát triển xã hội, ta thấy ngay thành quả lý luận đầu tiên của Tuyên ngôn chính là đã “xé toang tấm màn của những nguyên lý duy tâm chung chung, những công thức và khái niệm, những sự phân chia lưỡng phân và tam phân để tắm mình trong những quan hệ thực tế của thế giới hiện thực” (2). Vấn đề này đã được V.I Lê nin đánh giá một cách xác đáng “ Tuyên ngôn trước hết là tác phẩm trình bày một cách hết sức sáng sủa và rõ ràng thế giới quan mới - chủ nghĩa duy vật triệt để - chủ nghĩa duy vật này bao quát cả lĩnh vực sinh hoạt xã hội – phép biện chứng với tư cách là học thuyết toàn diện nhất và sâu sắc nhất về sự phát triển lý luận đấu tranh giai cấp và vai trò cách mạng – trong lịch sử toàn thế giới - của giai cấp vô sản, tức là giai cấp sáng tạo ra một xã hội mới, xã hội cộng sản”( 3).
Sự sắc sảo và sức sống mãnh liệt của Tuyên ngôn được thể hiện đặc biệt sinh động ở việc phát hiện những mâu thuẫn và xung đột trong lịch sử - đó chính là động lực phát triển của xã hội. Việc phát hiện, giải thích và xây dựng lý luận nhằm giải quyết các mâu thuẫn thời đại chính là hạt nhân trung tâm của tác phẩm. Trong đó chúng ta thấy toàn bộ sự phân tích của các ông được xây dựng trên quan niệm duy vật biện chứng về toàn bộ sự phát triển xã hội, theo đó lịch sử của tất cả các xã hội đã tồn tại từ trước tới nay là một quá trình biến đổi không ngừng mà động lực của nó là cuộc đấu tranh của những giai cấp đối kháng và lấy nhau làm tiền đề. Theo các ông, xã hội tư sản không xoá bỏ tính quy luật lịch sử phổ biến ấy, càng không thể thủ tiêu sự phân chia xã hội thành các giai cấp và các mâu thuẫn giai cấp cũng như đấu tranh giai cấp. Nó khác xã hội trước chỉ ở chỗ nó đẩy tính đối lập này và cuộc đấu tranh này lên đến tột đỉnh. Đó là lý do làm bùng nổ cuộc cách mạng vô sản.
 Trong những nội dung cốt lõi của Tuyên ngôn, mâu thuẫn giữa tư bản và lao động là đối tượng phân tích chủ yếu. Nó được xem là mâu thuẫn cơ bản của thời đại mà việc giải quyết nó là nhiệm vụ lịch sử đã chín muồi. Mâu thuẫn đó trước hết bắt nguồn từ chỗ lao động làm thuê của công nhân tạo ra tư bản, nghĩa là tạo ra sở hữu, là cái nó sẽ bóc lột lao động của công nhân, được luân chuyển và lớn lên chỉ nhờ có sự bóc lột này để rồi tiếp tục được luân chuyển, rồi lớn lên và tiếp tục bóc lột trong một khuôn khổ mới với quy mô còn to lớn hơn. Theo nghĩa đó, sự luân chuyển của tư bản chứng minh sự tăng lên không thể che đậy và hạn chế của chế độ tư hữu bằng cách bóc lột người lao động một cách vô nhân đạo và ngày càng tinh vi…Bằng cách đó, tư bản nắm lấy quyền thống trị thế giới và thâu tóm vào trong phạm vi thống trị của nó những vùng đất mới với tài nguyên và dân cư ở đó. Từ sự lớn lên vô hạn của chủ nghĩa tư bản mà C.Mác và F. Ăng ghen đã lý giải rằng những mầm mống cho sự diệt vong của nó cũng đồng thời xuất hiện, đó cũng chính là cơ sở cho việc sản sinh một trạng thái xã hội mới - trạng thái xã hội mà ở đó đa số người trước đây bị biến thành lao động làm thuê, thành giai cấp vô sản, trở thành người chủ của xã hội, là chủ thể của quan hệ sản xuất mới.
 Với Tuyên ngôn, hai ông không những đã đi từ việc nghiên cứu phép biện chứng nội tại vốn có một cách khách quan của bản thân xã hội tư bản, của bước chuyển từ CNTB “sang mặt đối lập của nó” đến việc phân tích một cách sâu sắc về phép biện chứng của cái khách quan và cái chủ quan, của sự tất yếu và tự do. Từ những bước đột phá trong tư duy, C.Mác và F.Ăng ghen đã chỉ ra rằng chỉ có giai cấp vô sản liên kết lại thành giai cấp và được Đảng Cộng Sản lãnh đạo mới có thể thực hiện được bước chuyển từ phương  thức sản xuất TBCN sang phương thức sản xuất XHCN. Bước chuyển đó - con đường quá độ lên CNXH mà nhiệm vụ hàng đầu và trước hết là biến giai cấp vô sản thành giai cấp thống trị, trao nhiệm vụ giành chính quyền cho giai cấp này và đây chính là điều kiện tiên quyết cho việc xây dựng thế giới mới.
                                                                Công Bằng
( 1). C.Mác và F.Ăng ghen, tuyển tập, tập1, nxb Sự thật, H, 1980, tr 504
( 2). Lịch sử phép biện chứng mác xít - Từ khi xuất hiện Chủ nghĩa Mác đến giai đoạn Lênin. Bản dịch tiếng Việt của Nxb tiến bộ và Nxb Khoa học xã hội, 1986, tr 136.
(3).  Lịch sử phép biên chứng mác xít, sđd , tr 136


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét