TUYÊN
NGÔN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN SO SÁNG CON ĐƯỜNG CÁCH MẠNG VIỆT NAM
Năm nay, cùng với nhân loại tiến bộ và những người cộng
sản trên toàn thế giới, những người cộng sản Việt Nam và nhân dân Việt Nam long
trọng tổ chức kỷ niệm 160 năm ngày ra đời của Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản
(24/2/1848 – 24/2/2008). Trong 160 năm qua, cuộc sống loài người đã có biết bao
thay đổi nhưng những giá trị to lớn, bền vững, những nguyên lý cơ bản của Tuyên
ngôn của Đảng Cộng sản vẫn tràn đầy sức sống, vẫn mãi là ngọn cờ tư tưởng, kim
chỉ nam cho hành động của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Tuyên ngôn
ra đời đánh dấu sự phát triển có ý nghĩa lịch sử của nhân loại, từ chủ nghĩa xã
hội không tưởng trở thành chủ nghĩa xã hội khoa học. Từ đây những người cộng
sản và các giai cấp bị áp bức, bóc lột đã có cương lĩnh hành động để thực hiện
mục tiêu lý tưởng của mình. Trung thành với chủ nghĩa Mác-Lênin, Tuyên ngôn của
Đảng Cộng sản đã trở thành tác phẩm kinh điển, gối đầu giường của những người
Cộng sản Việt Nam, soi sáng con đường phát triển của cách mạng Việt Nam. Và
tinh thần của nó, như Lê-nin từng nói: “Cuốn sách mỏng ấy có giá trị bằng hàng
bộ sách, tinh thần của nó đến bây giờ vẫn cổ vũ và thúc đẩy toàn thể giai cấp
vô sản có tổ chức và chiến đấu trong thế giới văn minh”.
Trong lời tựa viết cho bản tiếng Đức xuất bản năm 1872 Mác
và Ăng-ghen đã viết: “Mặc dầu hoàn cảnh đã thay đổi nhiều trong hai mươi lăm
năm qua, nhưng cho đến nay, xét về đại thể, những nguyên lý tổng quát trình bày
trong “Tuyên ngôn” vẫn còn hoàn toàn đúng” và “Chính ngay Tuyên ngôn cũng đã
giải thích rõ rằng bất cứ ở đâu và bất cứ lúc nào, việc áp dụng những nguyên lý
đó cũng phải tuỳ theo hoàn cảnh lịch sử đương thời, và do đấy, không nên quá
câu nệ vào những biện pháp cách mạng nêu ra ở cuối chương II. Đoạn này, ngày
nay mà viết lại thì về nhiều mặt, cũng phải viết khác đi”. Như vậy, chúng ta
hiểu rằng, về những nguyên lý cơ bản đã nêu trong Tuyên ngôn là vẫn hoàn toàn
đúng, song việc áp dụng những nguyên lý đó phải tuỳ theo hoàn cảnh cụ thể, chứ
không được giáo điều, rập khuôn máy móc. Về mặt biện pháp, hai ông cũng nói
rằng do tình hình và điều kiện đã có nhiều thay đổi nên nếu viết lại thì cũng
có thể phải viết khác đi. Đây là những lời dạy hết sức sâu sắc đối với những
người cách mạng. Bác Hồ kính yêu của chúng ta cũng đã từng căn dặn: “Dĩ bất
biến, ứng vạn biến”.
Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, với sự luận giải một
cách khoa học và đầy thuyết phục, Mác và Ăng ghen khẳng định sự diệt vong của
chủ nghĩa tư bản, đồng thời khẳng định sự thành công của chủ nghĩa xã hội là
“tất yếu như nhau” đó là quy luật phát triển của xã hội loài người. Khẳng định
trong xã hội hiện đại, chỉ có giai cấp vô sản là giai cấp cách mạng nhất, kiên
quyết và triệt để nhất, có khả năng lật đổ chủ nghĩa tư bản, xây dựng chế độ
cộng sản chủ nghĩa và sự nghiệp giải phóng giai cấp công nhân phải là sự nghiệp
của giai cấp công nhân. Đồng thời, Tuyên ngôn cũng nêu lên rằng trong cuộc đấu
tranh để tự giải phóng, giai cấp công nhân tất nhiên phải lập ra chính đảng của
mình để lãnh đạo phong trào cách mạng. Tuyên ngôn không những đã chỉ ra mục
tiêu, phương pháp cách mạng mà còn chỉ rõ lực lượng của cách mạng; khẳng định
sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân trong cuộc cách mạng đó. Điều này đã
được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta vận dụng một cách sáng tạo và thể hiện rõ
trong Điều lệ tóm tắt (công bố trong Hội nghị thành lập Đảng tháng 2/1930):
“Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức ra để lãnh đạo quần chúng lao khổ làm giai cấp
tranh đấu để tiêu trừ tư bản đế quốc chủ nghĩa làm cho thực hiện xã hội cộng
sản”. Về mục tiêu chiến lược của cách mạng Việt Nam, Chánh cương vắn tắt nêu
rõ: “Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng
sản”. Về con đường giải phóng dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng chỉ rõ: “Muốn
cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác là con đường cách
mạng vô sản”. Như vậy, từ những nguyên lý cơ bản về mục tiêu và con đường mà
Tuyên ngôn đã vạch ra, Đảng ta đã cụ thể hoá và vận dụng linh hoạt, sáng tạo
vào thực tiễn Việt Nam với các mục tiêu chính trị là giải phóng dân tộc, giải
phóng giai cấp và hướng tới chủ nghĩa cộng sản. Những mục tiêu đó đã trở thành
ngọn cờ đoàn kết toàn dân tộc, phát huy được sức mạnh tổng hợp, đem lại những
thắng lợi to lớn cho cách mạng Việt Nam trong quá trình thực hiện nhiệm vụ giải
phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người
trong gần 80 năm qua. Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng minh điều đó.
Trong Cách mạng Tháng Tám cũng như trong thời kỳ kháng
chiến chống Pháp, trung thành với những tư tưởng của Tuyên ngôn, xuất phát từ
thực tiễn và hoàn cảnh cụ thể Việt Nam, Đảng ta đã vận dụng những nguyên lý cơ
bản của Tuyên ngôn đề ra những quyết sách đúng đắn, phù hợp nên đã huy động
được sức mạnh đoàn kết to lớn của toàn dân tộc giành chính quyền về tay nhân
dân và sử dụng chính quyền ấy đưa dân tộc bước vào cuộc trường chinh chống thực
dân Pháp thắng lợi mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử, đưa đến
việc ký kết Hiệp định Giơ-ne-vơ lập lại hoà bình ở miền Bắc, đưa miền Bắc tiến
lên Chủ nghĩa xã hội, tiếp tục đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lươc, giải phóng
miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Sau hơn 30 năm chiến đấu kiên cường, dưới sự lãnh
đạo sáng suốt của Đảng, dân tộc ta đã làm nên Đại thắng Mùa Xuân 1975, đỉnh cao
là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, thu non sông gấm vóc về một mối, đất nước
sạch bóng quân thù, đế quốc Mỹ phải cút khỏi nước ta, nguỵ quân, nguỵ quyền sụp
đổ, đất nước độc lập, thống nhất và đi lên chủ nghĩa xã hội. Đó không chỉ là
thắng lợi to lớn có ý nghĩa thời đại của nhân dân Việt Nam, mà còn là thắng lợi
của chủ nghĩa xã hội, thắng lợi của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế,
là thắng lợi của tình hữu nghị và đoàn kết giữa các dân tộc bị áp bức trên toàn
thế giới.
Sau thắng lợi năm 1975, dân tộc ta bước vào một kỷ
nguyên mới, kỷ nguyên cả nước cùng tiến lên chủ nghĩa xã hội. Dù còn muôn vàn
khó khăn của thời hậu chiến, nhưng với lòng phấn khởi và niềm tự hào to lớn,
nhân dân cả nước lại bắt tay vào khôi phục vết thương chiến tranh, khắc phục
những hậu quả nặng nề do chiến tranh để lại, tập trung phát triển lực lượng sản
xuất và không ngừng hoàn thiện quan hệ sản xuất mới xã hội chủ nghĩa. Cuộc sống
vật chất, tinh thần của mọi người dân được cải thiện đáng kể, các công trường
nhà máy được mọc lên từ Bắc chí Nam, nhân dân hân hoan chào mừng cuộc sống mới
với niềm tin vô hạn vào sự lãnh đạo của Đảng, vào con đường đi lên của đất
nước. Nhưng do chủ quan, nóng vội và có phần duy ý chí, chúng ta đã phạm một số
sai lầm nghiêm trọng. Với mong muôn đưa cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến
vững chắc lên chủ nghĩa xã hội; Chúng ta nhận thức chưa đầy đủ những lời dạy
của Mác, Ăngghen: “Những người cộng sản có thể tóm tắt lý luận của mình theo
một luận điểm duy nhất là: xoá bỏ chế độ tư hữu”. Chúng ta không xem xét câu
nói đó trong một chỉnh thể của toàn bộ hệ thống văn bản nên đã phạm sai lầm là
đồng nhất “xoá bỏ chế độ tư hữu” với “xoá bỏ “hình thức sở hữu cá nhân”, với
“xoa bỏ chế độ tư hữu tư sản”, trong khi Tuyên ngôn đã chỉ rõ: “Chủ nghĩa cộng
sản không tước bỏ của ai cái quyền chiếm hữu những sản phẩm xã hội cả. Chủ
nghĩa cộng sản chỉ tước bỏ quyền dùng sự chiếm hữu ấy để nô dịch lao động của
người khác”. Như vậy là trong Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, luận điểm về vấn đề
sở hữu được nêu ra là nhằm xoá bỏ chế độ tư hữu tư sản - một chế độ mà từ đó đẻ
ra nạn “người bóc lột người”, một chế độ “dùng sự chiếm hữu đó để nô dịch lao
động của người khác”, chứ tuyệt nhiên không phải là xoá bỏ hình thức sở hữu tư
nhân. Chính vì nhận thức chưa đúng như vậy, mà chúng ta đã vội vàng xoá bỏ mọi
hình thức sở hữu khác và chỉ chấp nhận hai hình thức sở hữu cơ bản là “sở hữu
nhà nước” và “sở hữu tập thể”. Hơn nữa với suy nghĩ giản đơn là đã thắng đế
quốc Mỹ thì không có gì là chúng ta lại không làm được. Chúng ta đã đề ra nhiều
chủ trương cải tạo công thương nghiệp, cải tạo tư bản tư nhân ồ ạt đã làm thui
chột năng lực sáng tạo, triệt tiêu động lực sản xuất ở nhiều người. Bên cạnh đó
chúng ta thành lập các hợp tác xã, các tập đoàn sản xuất, xây dựng các
HTX với quy mô lớn, trong khi lực lượng sản xuất còn nhỏ bé, trình độ quản
lý của cán bộ còn nhiều yếu kém, bất cập… nên đã kìm hãm sự phát triển của lực
lượng sản xuất. Chúng ta đã không tuân theo quy luật kinh tế khách quan là lực
lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất, muốn cho sản xuất phát triển thì
quan hệ sản xuất phải luôn luôn phù hợp với tính chất và trình độ phát triển
của lực lượng sản xuất. Trong khi đó chúng ta lại quan niệm là muốn đưa sản
xuất lên nền sản xuất lớn XHCN thì quan hệ sản xuất phải đi trước một bước,
quan hệ sản xuất phải mở đường cho lực lượng sản xuất…Với lối tư duy cứng nhắc
và mang tính kinh viện đó đã gây ra hậu quả lớn cho nền sản xuất của nước ta,
sản xuất bị đình đốn, năng suất lao đông thấp, tư tưởng trong chờ ỷ lại phát
triển, cùng với sự phát triển của nhiều tiêu cực khác trong xã hội, làm cho
niềm tin vào Đảng, vào chế độ mới bị lung lay. Trước tình hình đó, Đảng ta đã
dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật, phân tích thực trạng và nguyên nhân của sự yếu
kém, để từ đó tìm giải pháp khả thi đưa cách mạng Việt Nam tiếp tục phát triển.
Bởi vì, chân lý là cụ thể, cách mạng là sáng tạo. Sinh thời, Mác và Ăng ghen
không bao giờ coi những chiến lược, sách lược có tính chất nguyên lý trình bày
trong Tuyên ngôn của Đảng cộng sản cũng như trong học thuyết của mình là “nhất
thành bất biến” mà “trong những nước khác nhau những biện pháp ấy dĩ nhiên cũng
khác nhau rất nhiều”. Chúng ta phải luôn ghi nhớ điều đó.
Đại hội VI của Đảng (12/1986) đánh dấu sự đổi mới của
cách mạng Việt Nam, còn được gọi là Đại hội của sự Đổi mới, trước hết là đổi
mới tư duy, đặc biệt là tư duy kinh tế. Đại hội đã thổi một luồng gió mới, tiếp
thêm sinh khí, khơi dậy năng lực sáng tạo ở tất cả mọi người, động viên khuyến
khích mọi cách làm mới nhằm phát huy tiềm năng trí tuệ, năng lực sản xuất sẵn
có. Với tinh thần “bung ra”, “tháo gỡ”, “cởi trói cho sản xuất”, mọi chủ trương
chính sách đều phải nhằm vào mục đích đó, và thế là chỉ trong một thời gian
ngắn, với những chủ trương chính sách đúng đắn, hợp quy luật, nhất là giải
quyết tốt về vấn đề sở hữu, cho phép nhiều thành phần kinh tế cùng tồn tại, xoá
bỏ bao cấp, thực hiện hạch toán kinh doanh XHCN.v.v.. từ phân phối bình quân,
cào bằng sang phân phối theo kết quả sản xuất, lấy năng suất và hiệu quả lao
động làm thước đo và cơ sở để phân phối sản phẩm. Chủ trương khoán sản phẩm trong
nông nghiệp, trao quyền tự chủ cho các đơn vị kinh tế trong công nghiệp, xây
dựng, vận tải…coi trọng quan hệ cung cầu và quy luật giá trị trong SXKD.
Với những chủ trương đúng đắn đó, chỉ sau một thời gian
ngắn nền kinh tế nước ta đã có nhiều chuyển biến đáng kể, hàng hoá được sản
xuất ra ngày một nhiều, đời sống người dân được cải thiện rõ rệt. Nước ta
từ một nước quanh năm thiếu đói phải nhập khẩu lương thực đã trở thành một nước
xuất khẩu gạo lớn của thế giới. Cùng với kinh tế tăng trưởng, nền chính
trị càng ổn định, an ninh quốc phòng được giữ vững, vị thế của Việt Nam trên
trường quốc tế càng được nâng cao, niềm tin của dân chúng được củng cố. Từ đổi
mới kinh tế chúng ta đã có cơ sở và niềm tin để từng bước đổi mới hệ thống
chính trị, luật pháp và từng bước hội nhập sâu rộng hơn vào nền kinh tế thế
giới.
Vào đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, hệ thống XHCN ở Liên Xô
và Đông Âu sụp đổ, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế lâm vào thoái trào,
nhưng với bản lĩnh kiên cường của một đảng mác xít dày dạn kinh nghiệm và đã
được tôi luyện trong đấu tranh cách mạng, trung thành với những nguyên lý cơ
bản của Tuyên ngôn, nắm chắc tình hình thực tiễn của đất nước, đảng ta đã vận
dụng sáng tạo những nguyên lý của chủ nghĩa Mác lê nin đề ra những quyết sách
đúng đắn, tiến hành công nghiệp nhoá, hiện đại hoá, vững vàng tay chèo lái đưa
con thuyền cách mạng Việt nam vượt qua mọi thử thách và tiến lên giành những
thắng lợi to lớn. Chính trị ổn định, kinh tế phát triển, đời sống được cải
thiện, uy tín trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao, bạn bè nể trọng.
Đặc biệt từ năm 2007 Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của tổ
chức thương mại thế giới (WTO), uỷ viên không thường trực của Hội đồng
bảo an LHQ…Chúng ta cũng đã đăng cai và tổ chức thành công nhiều hội nghị quan
trọng tầm thế giới và khu vực như APEC, các diến đàn ASEAN, các đại hội thể
thao khu vực…được dư luận thế giới khen ngợi. Tất cả đó đã minh chứng cho đường
lối đúng đắn và sự trung thành với học thuyết của chủ nghĩa Mác-Lê nin, của
những tư tưởng trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, và những tư tưởng cách mạng
đó vẫn có ý nghĩa to lớn và là kim chỉ nam cho mọi hành động, mãi mãi soi sáng
con đường cách mạng Việt Nam./.
H.A
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét