TUYÊN NGÔN CỦA ĐẢNG CỘNG
SẢN VỚI CÁC BẢN CƯƠNG LĨNH CÁCH MẠNG VIỆT NAM
1. Trong kho tàng lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tác phẩm
Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản có vị trí rất quan trọng. Nó chính thức đánh
dấu sự ra đời và hình thành về cơ bản nội dung của chủ nghĩa xã hội khoa học,
trở thành một trong những cuốn sách “gối đầu giường” của giai cấp vô sản cũng
như các Đảng công nhân trên thế giới. 160 năm trôi qua kể từ ngày xuất hiện,
bản Tuyên ngôn ấy v?n giữ nguyên sức sống và giá trị lịch sử với tư cách là cẩm
nang của giai cấp vô sản trong quá trình thực hiện sứ mệnh lịch sử lật đổ giai
cấp tư sản, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.
Cuộc cách mạng công nhgiệp bắt đầu ở nước Anh từ cuối thế
kỷ XVIII và cơ bản kết thúc vào những năm 50-60 thế kỷ XIX thực sự đã tạo ra
bước đột phá trong sự phát triển của CNTB ở châu Âu và Bắc Mĩ. Đến đầu thế kỷ
XIX, m?i mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và vô sản ngày càng sâu sắc. Phong trào
công nhân có nét mới với sự đấu tranh của giai cấp công nhân ở Anh, Pháp, Đức.
Một số tổ chức của công nhân cũng bắt đầu xuất hiện. Cũng trong bối cảnh đó,
chủ nghĩa xã hội không tưởng phê phán xuất hiện với ba đại diện tiêu biểu là
H.C.Xanh Ximông, S.Phuriê, Rôbơ Ô.oen. Đó là những điều kiện khách quan cho sự
ra đời của Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản.
Với sự hoạt động không biết mệt mỏi của Mác và Ăngghen,
tư tưởng của các ông đã thâm nhập và làm thay đổi hoạt động các tổ chức chức
công nhân, đặc biệt là tổ chức “Đồng minh những người chính nghĩa”. Tháng 6 -
1947, Đồng minh tiến hành đại hội ở Luân Đôn và đã đổi tên thành “Đồng minh
những người cộng sản” theo đề nghị của Mác và Ăngghen. Đại hội lần thứ nhất của
Đồng minh có ý nghĩa quan trọng, đánh dấu một thắng lợi lớn về tổ chức và tư
tưởng, chứng tỏ giai cấp công nhân đã bước đầu tiếp thu học thuyết cách mạng
Macxit. Tháng 12-1847, tổ chức “Đồng minh những người Cộng sản” tiến hành Đại
hội lần thứ hai. Đại hội nhất trí thông qua Điều lệ của tổ chức. Mác và ăngghen
được Đại hội ủy quyền soạn thảo cương lĩnh dưới dạng một bản Tuyên ngôn. Tháng
2- 1848, Tuyên ngôn đã được công bố ở Luân Đôn với tên gọi “Tuyên ngôn của Đảng
Cộng sản”.
Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản gồm lời mở đầu và 4 chương:
- Chương 1: Tư sản và vô sản.
- Chương 2: Những người vô sản và những người cộng sản.
- Chương 3: Văn học xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ
nghĩa.
- Chương 4: Thái độ của những người cộng sản đối với các
đảng đối lập.
Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản chẳng những là cương lĩnh
của Đảng Cộng sản đầu tiên, cương lĩnh cách mạng của phong trào cộng sản và
công nhân quốc tế, mà còn là một tác phẩm khoa học lớn. Lần đầu tiên,
những luận điểm chủ yếu của chủ nghĩa Mác được trình bày một cỏch có hệ thống
và rất chặt chẽ. Lênin cho rằng: “Tác phẩm này trình bày một cách hết sức
sỏng sủa và rõ ràng thế giới quan mới, chủ nghĩa duy vật triệt để - chủ nghĩa
duy vật này bao quát cả lĩnh vực sinh hoạt xã hội, - phép biện chứng với tư
cách là học thuyết toàn diện nhất và sâu sắc nhất về sự phát triển, lý luận đấu
tranh giai cấp và vai trò cách mạng - trong lịch sử toàn thế giới của
giai cấp vô sản, tức là giai cấp sáng tạo ra một xã hội mới, xã hội cộng sản”
[6, tr 57].
Về mặt lý luận,
Tuyên ngôn có nhiệm vụ thuyết trình về sự diệt vong chủ yếu của chủ nghĩa
tư bản, sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản, đồng thời có nhiệm vụ đập tan mọi
câu chuyện hư truyền về “bóng ma cộng sản” mà các thế lực thù địch đang rêu
rao.
Về mặt thực tiễn, Tuyên ngôn có nhiệm vụ trình bày công
khai mục đích, nhiệm vụ, những biện pháp cách mạng của những người cộng sản
nhằm lật đổ giai cấp tư sản, thiết lập nền thống trị của giai cấp vô sản, tiến
hành cải tạo xã hội và xây dựng chủ nghĩa xã hội - giai đoạn đầu của cộng sản
chủ nghĩa. Lịch sử hiếm thấy một tác phẩm nào lại có ảnh hưởng sâu sắc đến tiến
trình phát triển của cách mạng thế giới như Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản. Lênin
khẳng định: “Cuốn sách nhỏ ấy có giá trị bằng hàng bộ sách: tinh thần của nó
đến bây giờ vẫn cỗ vũ và thúc đẩy toàn thể giai cấp vô sản có tổ chức và chiến
đấu trong thế giới văn minh”[5, tr 10].
2. Lịch sử cách
mạng Việt Nam từ khi có Đảng đến nay đã có hai bản cương lĩnh đó là Cương lĩnh
năm 1930 và Cương lĩnh năm 1991.
Từ giữa đến cuối năm 1929, ở nước ta lần lượt xuất hiện
ba tổ chức cộng sản: Đông Dương cộng sản Đảng, An Nam cộng sản Đảng và Đông
Dương Cộng sản Liên đoàn. Các tổ chức cộng sản ra đời là kết quả tất yếu của
quá trình vận động của lịch sử dân tộc, khẳng định sự thắng thế của xu hướng
cách mạng vô sản ở Việt Nam. Tình hình đó đặt ra yêu cầu phải thống nhất các tổ
chức cộng sản, thành lập một chính Đảng duy nhất đủ sức lãnh đạo cách mạng Việt
Nam. Nhận chỉ thị của Quốc tế cộng sản, Nguyễn ái Quốc đã đến Hương Cảng (Trung
Quốc) vào cuối năm 1929 để “ hợp nhất các phần tử cộng sản chân chính lại để
thành lập một chính đảng thống nhất”. Ngày 3-2-1930, Hội nghị thành lập Đảng đã
được tổ chức. Hội nghị đã hợp nhất các tổ chức cộng sản thành một chính Đảng
thống nhất lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam; thông qua Chính cương vắn tắt,
Sách lược vắn tắt, Điều lệ vắn t?t của Đảng. Những văn kiện này chính là Cương
lĩnh đầu tiên của cách mạng Việt Nam.
Cương lĩnh xác định tính chất của xã hội Việt Nam là một
xã hội thuộc địa nửa phong kiến với sự bóc lột dã man c?a Pháp đối với nhân dân
Việt Nam. Xã hội Việt Nam đang tồn tại hai mâu thuẫn cơ bản là giữa thực dân
Pháp với toàn thể nhân dân Việt Nam và mâu thuẫn giữa nhân dân lao động (đặc biệt
là nông dân) với địa chủ phong kiến, trong đó mâu thuẫn cơ bản là giữa toàn thể
dân tộc ta với thực dân Pháp. Vì vậy, cách mạng muốn thắng lợi nhất thiết phải
tiến hành đấu tranh bằng bạo lực mới đánh đuổi được thực dân Pháp và đánh đổ
địa chủ phong kiến. Cương lĩnh cũng xác định chiến lược của cách mạng Việt Nam
là chủ trương “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã
hội cộng sản”. Về động lực của cách mạng, Cương lĩnh nêu rõ “Công - nông là gốc
của cách mạng còn tiểu tư sản, trí thức và trung nông là bầu bạn của cách mạng”
[3, tr65]. Đảng ta cũng xác định “Cách mạng Việt Nam là bộ phận khăng khít của
cáh mạng thế giới”, và khẳng định sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định
mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Có thể khẳng định
rằng, Cương lĩnh năm 1930 đã vạch ra những vấn đề chiến lược của cách
mạng nước ta, soi đường cho Đảng và nhân dân ta làm nên những thắng lợi vĩ đại
trong sự nghiệp giành và bảo vệ độc lập dân tộc.
Tại Đại hội lần thứ VII (năm 1991), Đảng Cộng sản Việt
Nam đã thông qua “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội”. Đây là bản cương lĩnh thứ hai trong lịch sử cách mang Việt Nam -
Cương lĩnh năm 1991, với những nội dung cơ bản sau:
Về quá trình cách mạng và những bài học kinh nghiệm: Từ
thực tiễn hơn 60 năm cách mạng với những thành công và khuyết điểm, Cương lĩnh
nêu ra 5 bài học sau:
+ Nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH.
+ Sự nghiệp cách mạng là của dân, do dân và vì dân.
+ Không ngừng tăng cường và củng cố đoàn kết.
+ Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.
+ Sự lãnh đạo của
Đảng là nhân tố hàng đầu đảm bảo lợi của cách mạng Việt Nam.
Về quá độ lên CNXH ở nước ta, Cương lĩnh đề cập đến các
vấn đề: nước ta quá độ lên CNXH trong điều kiện quốc tế có những biến động to
lớn, sâu sắc; bỏ qua TBCN với điểm xuất phát thấp lại chịu hậu quả của chiến
tranh kéo dài; phương hướng cơ bản của quá trình xây dựng CNXH và bảo vệ tổ
quốc. Trong muôn vàn khó khăn của tình hình trong và ngoài nước, Cương lĩnh vẫn
khẳng định tính tất yếu của CNXH, cũng như xác định biện pháp, mục tiêu cho
cách mạng Việt Nam: “Chủ nghĩa xã hội hiện đứng trước nhiều khó khăn, thử
thách. Lịch sử thế giới đang trải qua những bước quanh co; song, loài người
nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội vì đó là quy luật tiến hóa của lịch sử”;
nước ta “phải tiếp tục nâng cao ý chí tự lực, tự cường, phát huy mọi tiềm năng
vật chất và trí tuệ của dân tộc đồng thời mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, tìm
tòi bước đi, hình thức thích hợp xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội”;
“Mục tiêu tổng quát phải đạt tới khi kết thúc thời kỳ quá độ là xây dựng xong
về cơ bản những cơ sở kinh tế của chủ nghĩa xã hội, với kiến trúc thượng tầng
về chính trị, tư tưởng, văn hóa phù hợp, làm cho nước ta trở thành một nước xã
hội chủ nghĩa phồn vinh”[1, tr 8- 11]
Bên cạnh đó, Cương lĩnh cũng dành một phần quan trọng nói
về những định hướng lớn về chính sách kinh tế- xã hội, quốc phòng an ninh và hệ
thống chính trị cũng như vai trò lãnh đạo của Đảng.
Trong bối cảnh thế giới diễn biến phức tạp với việc CNXH
ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, lý luận về CNXH gặp phải nhiều vấn đề thì việc
Đảng ta thông qua Cương lĩnh năm 1991 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, định
hướng phát triển cho sự nghiệp cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới, tiếp tục
củng cố niềm tin vào thắng lợi của CNXH.
3. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chỉ bước đầu tìm
hiểu nét tương đồng giữa các bản cương lĩnh cách mạng Việt Nam với Tuyên ngôn
của Đảng Cộng sản, hay nói cách khác là những dấu ấn của “Tuyên ngôn của Đảng
Cộng sản” trong hai bản cương lĩnh cách mạng Việt Nam, chủ yếu là những luận
điểm chính.
Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản cũng như các bản Cương lĩnh
cách mạng Việt Nam đều đề cập và phân tích những mâu thuẫn tất yếu trong xã
hội. Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, các tác giả đã khẳng định rằng lịch sử
của xã hội loài người từ khi xuất hiện giai cấp là lịch sử đấu tranh giai cấp.
Đồng thời, phân tích một cách khoa học quá trình phát sinh, phát triển của
CNTB. Một hệ quả tất yếu của sự phát triển của CNTB là sự xuất hiện giai cấp vô
sản. Giai cấp vô sản bị tư sản bóc lột bởi giá trị thặng dư, dẫn đến đối kháng
giai cấp và không ngừng đấu tranh để giải phóng. Trên cơ sở quy luật chung, tác
giả khẳng định giai cấp tư sản đã tạo ra những người đào huyệt chôn chính nó.
Và, “Sự sụp đổ của giai cấp tư sản và thắng lợi của giai cấp vô sản đều là tất
yếu như nhau” [4, tr 65].
Trong Cương lĩnh năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam, trên
cơ sở thực trạng xã hội Việt Nam đã phân tích các mâu thuẫn giữa toàn thể dân
tộc Việt Nam với thực dân Pháp, giữa nông dân với địa chủ phong kiến. Từ đó xác
định nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam là làm “Tư sản dân quyền cách mạng và thổ
địa cách mạng để đi đến xã hội cộng sản”. Cương lĩnh năm 1991 cho rằng trước
mắt CNTB còn có tiềm năng phát triển kinh tế, nhờ ứng dụng những thành tựu mới
của khoa học công nghệ, cải tiến phương pháp quản lý, thay đổi cơ cấu sản xuất,
điều chỉnh cỏc hình thức sỡ hữu và chính sách xã hội. Tuy vậy, CNTB vẫn là một
chế độ áp bức, bóc lột và bất công. “Mâu thuẫn vốn có của chủ nghĩa tư bản giữa
tính chất xã hội hóa ngày càng cao của lực lượng sản xuất với chế độ chiếm hữu
tư nhân tư bản chủ nghĩa ngày càng sâu sắc. Mâu thuẫn giữa các tầng lớp nhân
dân rộng rãi với giai cấp tư sản, giữa các tập đoàn tư bản độc quyền, các công
ty xuyên quốc gia, các trung tâm tư bản lớn tiếp tục phát triển. Mâu thuẫn giữa
các nước tư bản phát triển và các nước đang phát triển ngày càng
tăng lên. Chính sự vận động của tất cả những mâu thuẫn đó và cuộc đấu tranh của
nhân dân lao động các nước sẽ quyết định số phận của chủ nghĩa tư bản”[1,
tr.7].
Về nguyên tắc ra đời của Đảng Cộng sản, trong Tuyên ngôn,
Mác và ăngghen chỉ ra rằng một chính Đảng vô sản được ra đời trên cơ sở kết hợp
chặt chẽ giữa chủ nghĩa Mác với phong trào công nhân. Trong khi đó, do
điều kiện hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam là một nước thuộc địa nên Đảng Cộng sản
Việt Nam ra đời là sự kết hợp chặt chẽ giữa phong trào công nhân, phong trào
yêu nước với chủ nghĩa Mác- Lênin.
Về tính chất giai cấp của Đảng Cộng sản, Mác - Ănghen đã
chỉ ra rằng Đảng Cộng sản là một bộ phận không thể tách rời của giai cấp vô
sản. Họ tuyệt nhiên không có lợi ích nào tách khỏi lợi ích của giai cấp vô sản.
Xét về mặt lý luận cũng như thực tiễn, Đảng Cộng sản luôn là đại biểu cho quyền
lợi của giai cấp vô sản cũng như nhân dân lao động. “Đảng Cộng sản chẳng những
là một bộ phận mà còn là đội tiên phong của giai cấp vô sản”[ 4, tr.35] . Trong
Cương lĩnh năm 1991, Đảng ta chỉ rõ: “Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong
của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công
nhân, nhân dân lao động và cả dân tộc” [ 1, tr. 21].
Về phương pháp tiến hành cách mạng, Tuyên ngôn Đảng cộng
sản nêu rõ: muốn lật đổ giai cấp tư sản, đập tan bộ máy nhà nước tư sản không
thể không dùng tới bạo lực cách mạng. Bạo lực cách mạng là một thủ đoạn tất yếu
của cách mạng vô sản vì nhà nước tư sản là một bộ máy bạo lực phản cách mạng
của giai cấp tư sản dùng để áp bức bóc lột nhân dân lao động, đồng thời bảo vệ
địa vị thống trị của nó. Nó bao giờ cũng là kẻ trước tiên dùng bộ máy bạo lực
sẵn có trong tay để chống lại giai cấp vô sản cách mạng. Sau khi giành được
chính quyền, nhiệm vụ của Đảng Cộng sản là lãnh đạo giai cấp vô sản và nhân dân
sử dụng chính quyền như một công cụ có hiệu lực nhất để cải tạo xã hội cũ và
xây dựng xã hội mới. Trong Cương lĩnh 1930, Đảng ta nêu rõ : “… muốn giải quyết
được hai mâu thuẫn đó mở đường đưa dân tộc ta đi đến tự do, hạnh phúc, nhân dân
ta phải tiến hành đấu tranh cách mạng bằng phương pháp bạo lực đánh đuổi đế
quốc Pháp thống trị để giành lại độc lập cho dân tộc và đánh đổ giai cấp địa
chủ phong kiến giành lại ruộng đất cho nông dân” [ 3, tr.64].
Trong Tuyên ngôn, các tác giả cho rằng: “Những người Cộng
sản chiến đấu cho những lợi ích và những mục đích trước mắt của giai cấp công
nhân, nhưng đồng thời trong cuộc vận động hiện tại họ cũng bảo vệ và đại biểu
cho tương lai của cuộc vận động” [4, tr66 - 67]. Đây chính là tư tưởng của Mác
và Ăngghen về sự chuyển biến từ cuộc cách mạng dân chủ tư sản sang cách mạng vô
sản cũng như khẳng định lập trường của giai cấp vô sản trong cuộc cách mạng
này. Cương lĩnh 1930, Đảng ta xác định “Trước hết phải làm tư sản dân quyền
cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Giữa hai giai đoạn không có bức tường
ngăn cách. Cương lĩnh 1991 cũng nói: “Quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một quá
trình lâu dài và trải qua nhiều chặng đường. Mục tiêu của chặng đường đầu là
thông qua đổi mới toàn diện xã hội đạt tới trạng thái ổn định vững chắc tạo thế
phát triển nhanh ở chặng sau” [1, tr11].
Về tính chất quốc tế vô sản, Tuyên ngôn nêu rõ khẩu hiệu:
“Vô sản tất cả các nước đoàn kết lại”, về sau khẩu hiệu này được Lênin bổ sung
thêm: “Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới đoàn
kết lại”. Điều này thể hiện tình đoàn kết quốc tế của cách mạng vô sản. Cương
lĩnh cách mạng Việt Nam năm 1930 cũng khẳng định: “Cách mạng Việt Nam là một bộ
phận khăng khít của cách mạng vô sản thế giới”, vì vậy phải coi trọng vấn đề
đoàn kết quốc tế. Cương lĩnh 1991 cũng khẳng định: “Ngày nay, trước cuộc đấu
tranh của thế giới vì hòa bình, độc lập, dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội,
trước sự phát triển vũ bảo của cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại và quá
trình quốc tế hóa mạnh mẽ nền kinh tế thế giới, càng cần phải kết hợp chặt chẽ
yếu tố dân tộc với yếu tố quốc tế, yếu tố dân tộc với yếu tố hiện đại để đưa
đất nước tiến lên”[1, tr. 5].
Từ một số điểm tương đồng trên chúng ta thấy rằng các bản Cuơng lĩnh cách mạng Việt Nam đã có tiếp thu những luận điểm của Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản. Mặc dù vậy, sự tiếp thu đó mang tính chất khoa học, sáng tạo, phù hợp với hoàn cảnh của cách mạng Việt Nam.
Từ một số điểm tương đồng trên chúng ta thấy rằng các bản Cuơng lĩnh cách mạng Việt Nam đã có tiếp thu những luận điểm của Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản. Mặc dù vậy, sự tiếp thu đó mang tính chất khoa học, sáng tạo, phù hợp với hoàn cảnh của cách mạng Việt Nam.
Trải qua quá trình tồn tại suốt 160 năm kể từ ngày
ra đời, Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản vẫn chứng minh được giá trị to lớn của
mình. Vận mệnh của Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản gắn liền với vận mệnh của phong
trào cộng sản của công nhân quốc tế. Mặc dù hiện nay tình hình thế giới hết sức
phức tạp, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế đang gặp nhiều khó khăn,
nhưng chủ nghĩa xã hội khoa học với những nguyên lý cơ bản đã được trình bày
trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản vẫn là ánh sáng soi đường cho nhân loại tiến
tới thực hiện mục tiêu, lý tưởng của mình.
H.A
1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Cương lĩnh xây dựng đất nước
trong thời kỳ quá độ, NXB Sự thật, H, 1991.
2. Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 3, NXB Chính trị Quốc gia,
H, 2000.
3. Nguyễn Bá Linh, Cương lĩnh đầu tiên của Đảng, NXB Công
an Nhân dân, H
4. Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, NXB Sự thật, H, 1976
5. V.I.Lênin Toàn tập, tập 2, NXB Tiến bộ, M, 1978,
tr 10)
6. V.I.Lênin Toàn tập, tập 26, NXB Tiến bộ M, 1980, tr
57)
7. V.P. Vônghin, Lược khảo lịch sử các tư tưởng xã hội
chủ nghĩa, NXB Sự thật, H, 1979.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét