NHỮNG GIÁ TRỊ BỀN VỮNG VÀ Ý NGHĨA THỜI ĐẠI CỦA TUYÊN NGÔN
ĐẢNG CỘNG SẢN
“Tuyên ngôn của Đảng
cộng sản ” Do C.Mác- Ph.Ănghen cùng soạn thảo vào năm 1847 và được xuất
bản lần đầu tiên vào khoảng tháng 3 năm 1848. Sự ra đời của Tuyên ngôn của Đảng
cộng sản cho đến nay đã 160 năm trôi qua cùng với bao thăng trầm của lịch
sử nhưng nó vẫn còn nguyên giá trị với tư cách là cương lĩnh chính trị
của phong trào cộng sản và công nhân Quốc tế.
Sự ra đời của Tuyên ngôn
của Đảng cộng sản đánh dấu bước ngoặt vĩ đại trong quá trình phát triển của các
tư tưởng xã hội chủ nghĩa từ không tưởng trở thành khoa học. Đó còn là bước
ngoặt trong phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân chuyển từ tự phát tới
tự giác, được hướng dẫn bởi lý luận khoa học và cách mạng, có chính Đảng và
có cương lĩnh rõ ràng.
Vào khoảng giữa thế kỷ
thứ XIX, chủ nghĩa tư bản ở châu Âu đã đạt được những bước phát
triển quan trọng. Cuộc cách mạng công nghiệp đã hoàn thành về cơ bản ở
nước Anh, đang được đẩy mạnh ở nước Pháp và cũng bắt đầu diễn ra ở một số
nước khác làm cho lực lượng sản xuất phát triển mạnh. Điều này đánh
dấu một bước phát triển của lịch sử nhân loại đó là sự xuất hiện và lớn
mạnh của CNTB hay nói cách khác CNTB đã là một hiện thực vững chắc đã đẩy
hai giai cấp mới lên vũ đài chính trị là: giai cấp tư sản và giai cấp vô sản
hiện đại (giai cấp công nghiệp).
Mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất đã mang tính
xã hội hoá cao với quan hệ sản xuất CNTB bắt đầu trở nên gay gắt với những biểu
hiện mới như khủng khoảng sản xuất thừa và nạn thất nghiệp; Mâu thuẫn giữa hai
giai cấp tư sản và vô sản dẫn đến cuộc đấu tranh quyết liệt của công nhân ở
nhiều nước trong những năm 30, 40 của thế kỷ XX. Năm 1831 công nhân ở
thành phố Li-ông (Pháp) khởi nghĩa với lá cờ đen ghi dòng chữ (Sống có việc làm
hay là chết trong chiến đấu); Phong trào Hiến chương của công nhân Anh; Tình
trạng đối kháng giai cấp ở nước Đức cũng rất phát triển, dẫn đến cuộc
khởi nghĩa của những người thợ dệt ở Xi-Le-di vào năm 1844 .
Những cuộc đấu tranh này
khẳng định sự xuất hiện của CNTB không chỉ làm cho giai cấp tư sản lớn mạnh mà
cùng với nó làm cho giai cấp vô sản phát triển trở thành một giai cấp độc
lập. Tác phẩm ra đời vào thời điểm quyết định trong quá trình chuyển biến của
chủ nghĩa xã hội từ không tưởng trở thành khoa học. Đồng thời bắt đầu thời kỳ
mới của CNXH khoa học đấu tranh với các trào lưu, tư tưởng đã lỗi thời và phản
động. Nhìn chung thời kỳ này, CNTB đang trên đà phát triển nhưng những
mâu thuẫn vốn có đã bộc lộ và ngày càng sâu sắc vẫn
chưa phát triển đến mức cao nhất, giai cấp công nhân mới bắt đầu bước vào con
đường đấu tranh tự giác chống CNTB. Vì thế, các cuộc đấu tranh kể cả những
người lao động tiên tiến còn chịu nhiều ảnh hưởng của học thuyết XHCN
không tưởng, kiểu tư sản.
Lúc này Mác và Ăng ghen
đã nhận ra một tình thế khác của CNTB lúc bấy giờ đã là một hiện thực với
rất nhiều thành tựu nhưng nó cũng bộc lộ nhiều mâu thuẫn, bế tắc mà thước đo là
các cuộc khủng hoảng về kinh tế. Và như vậy, các ông nhận định CNTB đang gặp
phải những nguy cơ. Hay nói cách khác, đằng sau các cuộc cách mạng dân chủ tư
sản nó cũng báo hiệu, đánh dấu các cuộc cách mạng tiếp theo
đó là các cuộc cách mạng vô sản do những người cách mạng vô sản làm
lực lượng chính.
Tác phẩm ra đời khi
phong trào công nhân hướng tới thành lập tổ chức Quốc tế - đồng minh những
người cộng sản và trở thành cơ sở lý luận cương lĩnh chính trị của tổ chức quốc
tế đó.
Cuối tháng 11 đầu tháng
12/1847 Đồng minh họp Đại hội lần thứ 2 và đã thảo luận nhất trí giao cho Mác
và Ăngghen soạn thảo bản tuyên ngôn chính thức. Tuyên ngôn của Đảng cộng sản
không những là một tác phẩm lý luận mà còn là bản cương lĩnh cách mạng đầu tiên
của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.
C.Mác và Ph.Ănghen chỉ rõ tuyên ngôn là “Một cương lĩnh của đảng có đầy đủ chi tiết, vừa về mặt lý luận vừa về mặt thực tiễn để đưa ra công bố”
C.Mác và Ph.Ănghen trong quá trình chuyển biến tư tưởng từ lập trường duy tâm sang lập trường duy vật, từ việc nghiên cứu sách vở đến thực tiễn của phong trào công nhân các ông đã nhận thấy sự cơ cực của giai cấp vô sản và nhận thấy tính tích cực, cách mạng của giai cấp này và tình nguyện đứng trong đội ngũ ấy và tích cực để chuẩn bị về mặt lý luận cho đội ngũ của giai cấp vô sản. Hai ông đã hoàn thành cuộc cách mạng sâu sắc nhất trong quan niệm của người ta về nội dung và xu thế phát triển khách quan của đời sống xã hội, đã giải đáp khoa học các vấn đề mà các nhà XHCN không tưởng đã nêu ra nhưng chưa giải đáp nổi. C.Mác và Ph.Ăngghen đã khẳng định rằng mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất TBCN ngày càng phát triển thành mâu thuẫn không thể điều hoà được giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản. Các ông cho rằng giai cấp vô sản là lực lượng cách mạng được lịch sử giao phó sứ mạng lãnh đạo toàn thể những người lao động trong công cuộc cải tạo xã hội tư bản thành xã hội xã hội chủ nghĩa.
C.Mác và Ph.Ănghen chỉ rõ tuyên ngôn là “Một cương lĩnh của đảng có đầy đủ chi tiết, vừa về mặt lý luận vừa về mặt thực tiễn để đưa ra công bố”
C.Mác và Ph.Ănghen trong quá trình chuyển biến tư tưởng từ lập trường duy tâm sang lập trường duy vật, từ việc nghiên cứu sách vở đến thực tiễn của phong trào công nhân các ông đã nhận thấy sự cơ cực của giai cấp vô sản và nhận thấy tính tích cực, cách mạng của giai cấp này và tình nguyện đứng trong đội ngũ ấy và tích cực để chuẩn bị về mặt lý luận cho đội ngũ của giai cấp vô sản. Hai ông đã hoàn thành cuộc cách mạng sâu sắc nhất trong quan niệm của người ta về nội dung và xu thế phát triển khách quan của đời sống xã hội, đã giải đáp khoa học các vấn đề mà các nhà XHCN không tưởng đã nêu ra nhưng chưa giải đáp nổi. C.Mác và Ph.Ăngghen đã khẳng định rằng mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất TBCN ngày càng phát triển thành mâu thuẫn không thể điều hoà được giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản. Các ông cho rằng giai cấp vô sản là lực lượng cách mạng được lịch sử giao phó sứ mạng lãnh đạo toàn thể những người lao động trong công cuộc cải tạo xã hội tư bản thành xã hội xã hội chủ nghĩa.
Trong hoàn cảnh như vậy
Tuyên ngôn của Đảng cộng sản chính thức được viết từ tháng 12 năm 1847 đến
tháng 01 năm 1848 và ngay lập tức đến tháng 02 năm 1848 tác phẩm đã được xuất
bản. Ngay trong lần xuất bản đầu tiên các ông không ký tên mình và viết dòng
chữ “Vô sản tất cả các nước đoàn kết lại”.
Với ý nghĩa đó thì Tuyên
ngôn của Đảng cộng sản chính là là lời tuyên bố về cương lĩnh, mục tiêu,
con đường, chiến lược và về các bước đi cần thiết của một Đảng cộng sản.
“Tuyên ngôn của Đảng cộng sản ” đã phân tích
làm sáng rõ quá trình ra đời phát triển, địa vị lịch sử của CNTB từ đó rút ra
một kết luận quan trọng : Sự sụp đổ của giai cấp tư sản và sự thắng lợi của
giai cấp vô sản đều là một tất yếu lịch sử như nhau; Giai cấp vô sản là người
có sứ mệnh cải tạo xã hội tư bản và xây dựng chủ nghĩa cộng sản.
Chủ nghĩa tư bản ra đời
và phát triển là một tất yếu lịch sử, giai cấp tư sản đã từng đóng vai trò là
giai cấp tiến bộ của thời đại và thống trị xã hội. Nhưng chính sự phát triển
của CNTB đã xuất hiện mâu thuẫn không thể điều hoà giữa chế độ sở hữu tư
nhân tư liệu sản xuất với sản phẩm mà nó tạo ra là lực lượng sản xuất công
nghiệp hoá biểu hiện về mặt xã hội là mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai
cấp vô sản. Đây là nguyên nhân cơ bản dẫn chế độ tư bản đến sụp đổ giai
cấp vô sản, đại diện cho lực lượng sản xuất mới, là giai cấp tiến bộ của
thời đại sẽ dành quyền thống trị xã hội.
“Tuyên ngôn của Đảng
cộng sản ” chỉ rõ sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản, là người “đào huyệt”
chôn CNTB, xây dựng xã hội mới.
Giai cấp vô sản bị đẩy
xuống đáy tận cùng của nấc thang xã hội, do đó nó trở thành “Tụ điểm” của mọi
nguyện vọng được giải phóng khỏi áp bức bóc lột. Cuộc đấu tranh giải phóng của
giai cấp vô sản trùng hợp một cách khách quan với cuộc đấu tranh giải phóng xã
hội.
C.Mác và Ph.Ănghen đã
chỉ ra rằng Đảng cộng sản là bộ phận không thể tách rời của giai cấp vô sản, là
nhân tố quyết định hàng đầu để giai cấp vô sản và nhân dân lao động hoàn thành
sứ mệnh lịch sử thủ tiêu chế độ TBCN xây dựng chế độ XHCN tiến tới Cộng sản chủ
nghĩa. Mục đích và lợi ích của Đảng cộng sản và của giai cấp vô sản là thống
nhất: Đảng cộng sản luôn luôn đại biểu cho quyền lợi của giai cấp vô sản cũng
như của nhân dân lao động.
Mục đích cuối cùng của
những người cộng sản là thực hiện Chủ nghĩa cộng sản. Nhưng “Giai đoạn
thứ nhất trong cuộc cách mạng công nhân là giai đoạn giai cấp vô sản tự xây
dựng thành giai cấp thống trị, là giai đoạn dành lấy dân chủ”. Khi cuộc đấu
tranh cách mạng đã đến thời kỳ chín muồi, thì giai cấp vô sản cần dành lấy
chính quyền. “Bằng cách lật đổ giai cấp tư sản bằng bạo lực”.
Hơn 20 năm sau, thực
tiễn của công xã Pa-ri đã cho C.Mác và Ph.Ăngghen thấy rằng nếu cần bổ sung vào
tuyên ngôn một điểm nào đó có tính chất nguyên lý, thì điểm đó là : “Giai cấp
công nhân không thể chỉ nắm lấy bộ máy nhà nước sẵn có và bắt nó phục vụ mình”
trái lại, phải đập tan, phải phá huỷ bộ máy nhà nước cũ và trên cơ sở đó xây
dụng một bộ máy nhà nước mới để phục cho mục đích của mình. Sau khi dành được
chính quyền nhiệm vụ của Đảng cộng sản là lãnh đạo giai cấp công nhân và nhân
dân lao động sử dụng chính quyền như một công cụ có hiệu lực nhất để cải tạo xã
hội cũ và xây dựng xã hội mới.
Tuyên ngôn khẳng định
tinh thần cách mạng không ngừng và triệt để của cách mạng vô sản; Trình bày tư
tưởng về hai cuộc cách mạng; Về sự chuyển biến từ cuộc cách mạng thứ nhất sang
cuộc cách mạng thứ hai. Do đó, Tuyên ngôn có ý nghĩa chỉ đạo thực tiễn to lớn
đối với cách mạng vô sản.
Trong công cuộc đổi mới
cải cách ở nhiều nước XHCN hiện nay nguyên lý được tuyên ngôn đưa ra đã và đang
được vận dụng sáng tạo.
Tư tưởng xoá bỏ chế độ
tư hữu tư sản như là phương tiện để giai cấp này nô dịch giai cấp khác
được tuyên ngôn đưa ra đã được các nước XHCN nhận thức đầy đủ đúng đắn hơn để
khắc phục khuyết điểm duy ý chí một thời là xoá bỏ chế độ tư hữu một cách
tràn lan. Mặt khác, đã tìm ra những hình thức sở hữu phong phú thích hợp với
môi trường của nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị
trường định hướng XHCN. Điều quan trọng là các hình thức sở hữu đã gắn
kết người lao động với tư liệu sản xuất, kích thích tính tích cực lao
động của họ để tạo ra nhiều của cải cho bản thân và xã hội. Các hình thức sở
hữu mang tính chất xã hội chủ nghĩa đang từng bước được phát triển trên cơ sở
chín muồi của lực lượng sản xuất và các điều kiện kinh tế khác. Việt Nam đang
xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một minh chứng
cho việc vận dụng một cách khoa học những nguyên lý cơ bản trong “ Tuyên ngôn
của Đảng cộng sản’’.
Tư tưởng về củng cố nhà
nước được thành lập sau thắng lợi của cách mạng vô sản như là công cụ sắc bén
để giai cấp công nhân và nhân dân lao động thực hiện công cuộc cải tạo xã hội
cũ xây dựng xã hội mới mà tuyên ngôn đã khẳng định với tinh thần cơ bản là mở
rộng và củng cố nền tảng dân chủ kéo đông đảo công nhân và những người lao động
khác tham gia vào công cuộc quản lý nhà nước, quản lý xã hội đang được vận dụng
vào việc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân. Cũng theo
tinh thần ấy hàng loạt nhiệm vụ trước mắt đang được giải quyết như tiến
hành công cuộc cải cách hành chính, đổi mới hoạt động của hệ thống tư pháp, xây
dựng quy chế dân chủ, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân
dân.
Tư tưởng thể hiện trong
tuyên ngôn xem con người là mục tiêu cao nhất của sự nghiệp giải phóng, sự hài
hoà giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội là nét đặc trưng của xã hội mới đã
được các nước XHCN nhận thức sâu hơn và coi chiến lược con người là chiến lược
hàng đầu, phát huy vai trò của nhân tố con người như là động lực, hướng vào
phục vụ con người như là mục tiêu cao nhất.
Tuyên ngôn khẳng định
vai trò của trí thức đối với phong trào công nhân được nhắc lại với ý nghĩa
thời sự, cấp bách khi công cuộc đổi mới ở nước ta đang diễn ra trong thời đại
phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ. Chiến lược nhằm đào tạo nguồn
nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước là kết quả của sự vận dụng sáng tạo
tư tưởng đó của tuyên ngôn.
Trải qua thời kỳ cao
trào những năm 60-70 bước vào thời kỳ thoái trào hiện nay giai cấp công
nhân vẫn không ngừng phát triển và đang thực hiện sứ mạng mà lịch sử giao phó.
Giai cấp công nhân vẫn tăng về số lượng và trình độ văn hoá cũng không
ngừng được nâng cao đó là sự bảo đảm chắc chắn nhất để giai cấp vô sản thực
hiện sứ mệnh mà lịch sử giao phó. Đồng thời, phải nâng cao vai trò của Đảng
cộng sản củng cố mối liên hệ giữa Đảng và giai cấp để đoàn kết những người lao
động xung quanh Đảng như tinh thần mà tuyên ngôn đã nêu ra.
Chính vì thế “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản” đã
gắn liền với vận mệnh của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, phong trào
đấu tranh của nhân dân lao động các nước và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế
giới. Vượt qua thử thách biến cố của lịch sử, những thăng trầm của phong trào
cộng sản và công nhân thế giới đã khảo nghiệm và chứng minh cho giá trị bền
vững vạch thời đại của những nguyên lý cơ bản trong tuyên ngôn. Đối với giai
đoạn hiện nay và đối với công cuộc đổi mới ở Việt Nam tư tưởng của C .Mác và
Ph.Ăngghen trong Tuyên ngôn Đảng cộng sản vẫn nguyên giá trị chỉ lối, soi đưòng
trong thế kỷ XXI đối với giai cấp vô sản và nhân dân lao động toàn thế giới ./.
H.A
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét