TUYÊN
NGÔN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN - NGỌN ĐUỐC SOI SÁNG LÝ LUẬN ĐI LÊN CNXH CỦA CHÚNG TA
Trong suốt chiều dài của tác phẩm, chúng ta không thấy ở
đó việc kêu gọi về một chân lý vĩnh cửu hay một sự áp đặt của lý trí về bước
phát triển tất yếu của xã hội loài người. Mọi sự tôn trọng giành cho tuyên ngôn
còn là vì ở đây đã xuất hiện một sự phân tích có tính Đảng về sự phát triển của
thế giới với tư cách là những quan hệ thực tế của thế giới hiện thực.
Trên cơ sở phép biện chứng duy vật, C.Mác và F.Ăng ghen
đã nêu ra cách giải thích một cách khoa học, hợp lý một loạt những mâu thuẫn mà
trước đó là những thách thức đối với khả năng nhận thức của con người, thậm chí
là hòn đá cản đường đối với cả những trường phái triết học phi mác xít. Đó là
những mâu thuẫn giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, giữa vật chất với ý thức,
giữa khách thể với chủ thể, giữa tất yếu với tự do, giữa cơ sở kinh tế với kiến
trúc thượng tầng, giữa cá nhân với xã hội.v.v
Trong khi đi tìm lời giải cho vấn đề trung tâm của triết
học là mối quan hệ giữa tồn tại và ý thức, việc khởi thảo quan niệm duy vật về
lịch sử đã giải phóng sự bất lực, ách tắc của việc giải thích một cách khoa học
về lịch sử loài người. Chủ nghĩa duy vật lịch sử đã chứng minh rằng, để giải
thích sự phát triển của xã hội, không cần đến những sức mạnh bên ngoài - là
thượng đế, ý niệm tuyệt đối hay là ý thức con người đã được cường điệu hoá…Chủ
nhĩa duy vật lịch sử miêu tả sự phát triển xã hội như là một quá trình lịch sử
tự nhiên diễn ra do những tiền đề khách quan của nó, do những mâu thuẫn bên
trong vốn có của nó. Do đó, sẽ không đúng nếu tách riêng những phạm trù bên
trong của nó với những biểu hiện bên ngoài với tính cách là cấu trúc vật chất
mà nó biểu hiện. Nghiên cứu tuyên ngôn xuất phát từ góc độ lịch sử phép biện
chứng trước hết phải bắt đầu từ việc khám phá ra cái động lực và nguồn gốc vận
động của bản thân các phạm trù mà các nhà kinh điển Mác xít đã phát hiện. Trong
khi trình bày những quan điểm có tính nguyên lý của mình, các ông đã chỉ ra cái
nguyên lý của sự vận động chính là việc giải quyết các mâu thuẫn, xung đột
trong lòng sự vật hiện tượng. Việc ý thức về phép biện chứng trong các khái
niệm do C.Mác và F.Ăng ghen tạo ra lúc bấy giờ hướng dẫn việc giải quyết các mâu
thuẫn của thời đại đó là hạt nhân trung tâm, là linh hồn của tác phẩm. Chính
cái hạt nhân biện chứng đó quyết định cả nội dung, hình thức, cả cấu trúc lô
gich cũng như cả cơ chế lý luận của nó.
Một trăm bảy mươi năm đã đi qua, gắn liền với sự vận động
của lịch sử thế giới, Tuyên ngôn của Đảng Cộng Sản không chỉ là văn kiện
khắc ghi dấu ấn đậm nét về vai trò lịch sử của C.Mác và F.Ăng ghen đối với sự
phát triển của phong trào cộng sản quốc tế. Hơn nhiều lần như thế, thời đại
ngày nay đang chứng minh một cách rõ hơn và biện chứng hơn về những gì mà các
ông đã cống hiến hoàn toàn thuộc về những giá trị có tính phổ quát. Lý luận về
tính tất yếu của CNXH, CNCS như các ông đã khẳng định, đó không phải là những
nguyên tắc lý trí mà hiện thực phải khuôn theo, mà ngược lại lý luận là chỉ để
giúp con người thừa nhận một sự thật: CNXH là bước phát triển thay thế cho cái
hiện thực xã hội - TBCN vốn chứa đựng trong bản chất của nó một cơ chế độc hại
có khả năng trói chặt lịch sử bằng bàn tay nhơ nhuốc, phi nhân tính của nó.
Hơn
ba mươi năm đổi mới của Việt Nam là hai mươi năm vận động phát triển của tư duy
lý luận và thực tiễn xây dựng CNXH dưới sự lãnh đạo của Đảng. Gắn liền với
nhiều biến động của tình hình thế giới, với những gì đã đạt được và cả những gì
còn là khó khăn, thách thức ở phía trước, Tuyên ngôn cũng như toàn bộ hệ giá
trị lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin không phải là câu trả lời có sẵn, càng
không phải là một thuật toán hay một thứ công thức để giúp chúng ta có ngay đáp
số đúng. Xuất phát từ những nguyên lý cơ bản đã được C.Mác và F.Ăng ghen đặt
nền tảng từ cuối những năm 40 của thế kỷ XIX, đó là thế giới quan và phương
pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử ( sau này được V.I.Lê nin bổ
sung, phát triển ) có thể giúp chúng ta xây dựng hệ thống lý luận về CNXH và
con đường đi lên CNXH ở Việt Nam mà không bị ảnh hưởng bởi những hạn chế của
lịch sử.
Thứ nhất, Tuyên ngôn mở
đường cho những sáng tạo mạnh mẽ về tư duy xây dựng CNXH trên lập trường của
giai cấp công nhân.
Đảng ta đã từng khẳng định: trung thành với Chủ nghĩa Mác
- Lênin là suy nghĩ và hành động xuất phát từ cuộc sống trên cơ sở thế giới
quan, phương pháp luận duy vật biện chứng, là “dĩ bất biến, ứng vạn biến” theo
phương châm ứng xử của Hồ Chí Minh. Điều cấp thiết là phải dùng thế giới quan
và phương pháp luận Mác - Lê nin đột phá vào những vấn đề cơ bản và bức xúc do
thực tiễn đặt ra, qua đó đi đến những nhận thức mới ngày càng đúng đắn hơn về
CNXH và con đường đi lên CNXH phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước. Cương lĩnh
xây dựng đất nước thời kỳ Đổi mới (1991) và Bổ sung phát triển năm 2011 đã xác
định những đặc trưng cơ bản của CNXH ở Việt Nam và Đại hội ĐBTQ lần thứ XII của
Đảng tiếp tục bổ sung những nội dung mới. Đó chính là kết quả của quá trình đổi
mới tư duy về CNXH, là cơ sở cho việc phát triển những nhận thức mới về hình
thái xã hội, đó là chuyển biến từ trọng điểm đơn nhất sang thống nhất về lý
luận toàn diện và lý luận trọng điểm.
Thứ hai, Tuyên ngôn xác lập
các nguyên tắc bảo đảm định hướng XHCN trong điều kiện kinh tế thị trường.
Bằng việc khái quát một cách có hệ thống toàn bộ quá
trình phát sinh, phát triển của CNTB, lột trần những mâu thuẫn nội tại của nó.
Tuyên ngôn chứng minh rằng, việc xác lập chế độ TBCN thay cho chế độ phong kiến
thậm chí được coi là một bước tiến của lịch sử, tuy nhiên, đến lượt nó, khi
những QHSX của xã hội TBCN không còn phù hợp nó sẽ thúc đẩy sự bùng nổ cuộc
cách mạng về QHSX. Thực tiễn đổi mới càng đưa lại cho chúng ta cơ sở để nhận
thức đúng đắn hơn về mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ
sản xuất. Hơn thế nữa, để nền kinh tế phát triển theo quy luật thị trường,
chúng ta chắc chắn phải xây dựng nền kinh tế mở, năng động. Trong quá trình đó
yêu cầu phải củng cố và nâng cao hiệu quả của kinh tế nhà nước, làm cho nó thể
hiện vai trò chủ đạo thực sự của nền kinh tế quốc dân, xác lập vững chắc QHSX
mới XHCN. Dựa trên nguyên lý nền tảng của CNXH là tăng trưởng kinh tế phải gắn
liền với công bằng xã hội, Đảng ta trong đường lối lãnh đạo đã nhấn mạnh chính
sách kinh tế phải thống nhất với chính sách xã hội trong một chỉnh thể thống
nhất, lấy con người làm trung tâm. Trong đó, Đảng ngày càng thể hiện rõ quan
điểm về một xã hội công bằng trong phân phối lợi ích và công bằng về cơ hội
phát triển. Đó chính là sự phát triển tư duy về xây dựng CNXH trong điều kiện
kinh tế thị trường mà ở đó việc thực hiện dân chủ trong kinh tế và dân chủ
trong chính trị hướng tới quyền dân chủ và làm chủ của nhân dân chính là động
lực quan trọng nhất. Với việc bảo đảm một cơ chế phát triển phù hợp với quy
luật lôgich vận động đi lên của thời đại và một chất lượng nhân văn xã hội,
chúng ta quyết không dành chỗ cho những tư duy cổ hũ, lạc hậu theo kiểu “Thà có
chủ nghĩa xã hội nghèo còn hơn chủ nghĩa tư bản giàu”. Đó cũngchính là những
bước đi biện chứng từ nhận thức chỉ coi trọng chế độ sang nhận thức mới là coi
trọng giá trị; từ chỗ chỉ coi trọng quan hệ sản xuất sang coi trọng phát triển
lực lượng sản xuất.
Thứ ba, Tuyên ngôn là cơ sở
lý luận sắc bén cho những quan điểm chiến lược của Đảng trong công cuộc đổi
mới.
Chúng ta biết rằng, những người cộng sản ngày nay đang
trải qua một thực tế rất nghiệt ngã (vốn chưa hề có kể từ khi Tuyên ngôn ra đời),
đó là CNXH sau khi giành chiến thắng trên một phần ba lãnh thổ thế giới đã sụp
đổ ở một mảng lớn nhất, sụp đổ ngay trên quê hương Cách mạng Tháng Mười, quê
hương của V.I.Lê nin, là nơi từng là thành trì của CNXH. Niềm tin và lý tưởng
cộng sản đang bị thử thách nghiêm trọng. Những thắng lợi trong công cuộc cải
cách ở Trung Quốc, Đổi mới ở Việt Nam và của phong trào cộng sản và công nhân
quốc tế hiện nay chưa đủ điều kiện để khẳng định rằng CNXH hiện thực đã phát
triển trở lại với đầy đủ sức mạnh của nó. Mặc dù đã vượt qua được thời kỳ khó
khăn nguy hiểm nhất, CNXH hiện nay xét trên cả hai phương diện lý luận và thực
tiễn càng phải dựa vững vào những luận điểm về phát triển xã hội mà Chủ nghĩa
Mác - Lênin đã xác lập. Giác ngộ CNXH như đã nói, giờ đây ngoài ý chí, lạc quan
cách mạng cao độ dẫu có chiến thắng được những cám dỗ vật chất và những toan
tính vị kỷ cá nhân, cần biết dựa vào những cơ sở khoa học. Để đáp ứng yêu cầu
đó, một cuộc cách mạng trong tư duy là đặc biệt cần thiết. Trong khuôn khổ
những nội dung cơ bản của Tuyên ngôn, ta thấy Đảng ta đã hoàn toàn đúng khi
khẳng định đổi mới là không xa rời những nguyên tắc chiến lược của Chủ nghĩa
Mác - Lênin, đổi mới trước hết là để hiểu CNXH một cách đầy đủ và đúng đắn hơn,
đổi mới là để thực hiện CNXH một cách nhanh hơn và hiệu quả hơn. Với tất cả
những gì đã được Đảng ta tổng kết thành quan điểm, đường lối lãnh đạo cách
mạng, để tiếp cận và khai thác những giá trị bất tử của Tuyên ngôn của Đảng
Cộng Sản, thiết nghĩ cơ chế đổi mới tư duy của chúng ta là:
- Trước hết,
tiếp tục đẩy mạnh những chuyển biến theo hướng tôn trọng và bảo vệ thực tiễn
khách quan, khắc phục tình trạng lý luận bản vị. Đối với nền tảng tư tưởng,
phải lấy tinh thần cơ bản để thay thế cho “tiêu chuẩn trích dẫn”, tránh máy
móc, giáo điều.
- Mặt khác, về thế giới quan: Chuyển từ đối lập
tuyệt đối các chế độ xã hội khác nhau sang nhìn thẳng vào đa dạng hoá xã hội.
Chuyển từ đối lập giản đơn, cứng nhắc mối quan hệ giai tầng sang quan điểm hỗ
trợ, hợp tác theo hướng cùng có lợi.
Lẽ dĩ nhiên, điều quan trọng nhất như chúng ta đã thừa
nhận. Tuyên ngôn là công trình đầu tiên, cơ bản nhất đặt cơ sở cho học thuyết
về Đảng của giai cấp công nhân với tư cách là người tổ chức, là lãnh tụ của
giai cấp công nhân. Việc thành lập Đảng là điều kiện cần để giai cấp công nhân
giành lấy chính quyền và cải tạo xã hội. Nhưng, như C.Mác và F.Ăng ghen đã căn
dặn, những người cộng sản cần phải hành động tuỳ theo những điều kiện lịch sử
cụ thể, chứ không phải theo những khuôn mẫu cứng nhắc. Lý luận của Chủ nghĩa
Mác - Lênin là nền tảng, kim chỉ nam cho nhận thức tư tưởng chứ không phải là
thần dược chữa bách bệnh. Xây dựng CNXH ở Việt Nam hay ở bất cứ đâu đều được
quyết định bởi trí tuệ, bản lĩnh và phẩm chất đạo đức của tổ chức tiên phong
lãnh đạo - đó chính là năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng - điều kiện
đủ để thực hiện thành công con đường CNXH, CNCS mà chúng ta đã lựa chọn.
Công
Bằng
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét