SỰ PHÁT TRIỂN NHẬN THỨC CỦA ĐẢNG VỀ VAI TRÒ CỦA KINH TẾ TƯ NHÂN
Kinh tế tư nhân được dùng để chỉ các thành phần kinh tế dựa trên chế độ sở
hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư
bản tư nhân. Cả hai thành phần kinh tế trên thuộc cùng chế độ sở hữu tư nhân về
tư liệu sản xuất; tuy nhiên, quy mô sở hữu là khác nhau. Quan điểm của Đảng về
vai trò của kinh tế tư nhân có một quá trình hình thành và phát triển lâu dài,
được bổ sung và hoàn thiện dần qua mỗi giai đoạn phát triển kinh tế đất nước.
Bắt đầu từ Đại hội VI (12/1986), nền kinh tế
nhiều thành phần đã được thừa nhận chính thức trong văn kiện: “Cần sửa đổi, bổ sung và công bố rộng rãi
chính sách nhất quán đối với các thành phần kinh tế... Xóa bỏ những thành kiến
thiên lệch...”[1] và “Bằng
những biện pháp thích hợp, sử dụng mọi khả năng của các thành phần kinh tế khác
trong sự liên kết chặt chẽ và dưới sự chỉ đạo của thành phần kinh tế xã hội chủ
nghĩa”[2].
Như vậy, các thành phần kinh tế phi XHCN được thừa nhận sự tồn tại và hoạt động
dưới sự chỉ đạo, dẫn dắt của thành phần kinh tế XHCN. Tuy nhiên lúc này, kinh
tế tư nhân vẫn được coi là đối tượng phải “cải tạo”.
Đến ngày 05/4/1988, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW xác định
hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ, từ đó đổi mới cơ bản cách thức quản lý
hợp tác xã nông nghiệp, tạo động lực cho kinh tế tư nhân trong nông nghiệp hồi
phục và phát triển năng động, bước đầu chuyển sang sản xuất hàng hóa tạo ra
bước khởi đầu quan trọng đối với kinh tế tư nhân nước ta, mở đường cho những
bước đột phá mạnh hơn sau này.
Quan điểm của Đảng rõ ràng hơn về việc khuyến khích và tạo điều kiện cho
kinh tế tư nhân phát triển ở Đại hội VII (6/1991): “Kinh tế tư nhân được
phát triển, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất, theo sự quản lý, hướng dẫn của
Nhà nước”[3]
và “Kinh tế tư bản tư nhân được
phát triển không hạn chế về quy mô và địa bàn hoạt động trong những ngành, nghề
mà luật pháp không cấm”[4], theo đó,
từ chỗ coi kinh tế tư bản tư nhân là một thành phần kinh tế “tàn dư” của chế độ
xã hội cũ, có thể sử dụng nhưng cần “cải tạo” bằng những bước đi thích hợp.
Trước sự phát triển của thực tiễn, Hội nghị Trung ương 2 (khóa VII) Đảng đề ra chủ trương: “Bổ sung và sửa đổi thể chế nhằm bảo đảm cho tập thể, cá thể và tư nhân
được phát triển không hạn chế về quy mô và địa bàn hoạt động trong những lĩnh
vực mà pháp luật không cấm; được tự lựa chọn hình thức kinh doanh, kể cả liên
doanh với nước ngoài theo những điều kiện do luật định”[5].
Đến Đại hội VIII (6/1996) Đảng tiếp tục khẳng định “Thực hiện nhất quán, lâu dài chính sách này, khuyến khích mọi doanh nghiệp,
cá nhân trong và ngoài nước khai thác các tiềm năng, ra sức đầu tư phát triển,
yên tâm làm ăn lâu dài, hợp pháp, có lợi cho quốc kế dân sinh, đối xử bình đẳng
với mọi thành phần kinh tế trước pháp luật, không phân biệt sở hữu và hình thức
tổ chức kinh doanh”[6]. Như
vậy, việc đối xử bình đẳng với mọi thành phần kinh tế của Đảng đã tạo điều kiện
kinh tế và pháp lý thuận lợi để các nhà kinh doanh tư nhân yên tâm đầu tư làm
ăn lâu dài.
Về vai trò của kinh tế tư bản tư nhân, từ chỗ Đảng ta cho rằng “Tư bản tư
nhân được kinh doanh trong những ngành có lợi cho quốc kế dân sinh do luật pháp
quy định”[7] đến bước
nhìn nhận mới: “Tạo môi trường kinh doanh
thuận lợi về chính sách, pháp lý để kinh tế tư bản tư nhân phát triển trên
những hướng ưu tiên của Nhà nước, kể cả đầu tư ra nước ngoài; chuyển thành
doanh nghiệp cổ phần, bán cổ phần cho người lao động; liên doanh liên kết với
nhau với kinh tế tập thể và kinh tế nhà nước”[8].
Cụ thể hóa quan điểm của Đại hội IX, Đảng ban hành Nghị quyết Trung ương 5 (khóa
IX) “Về tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích, tạo điều kiện
phát triển kinh tế tư nhân”. Đây là lần đầu tiên kể từ khi đổi mới, Ban
Chấp hành Trung ương có một nghị quyết chuyên đề về kinh tế tư nhân và khẳng
định: Kinh tế tư nhân là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân.
Phát triển kinh tế tư nhân là vấn đề chiến lược lâu dài trong phát triển nền
kinh tế nhiều thành phần định hướng XHCN. Đồng thời đưa ra những đánh giá xác
đáng về đóng góp của kinh tế tư nhân, đó là: đóng góp quan trọng vào phát triển
kinh tế, huy động các nguồn lực xã hội vào sản xuất, kinh doanh, tạo thêm việc
làm, cải thiện đời sống nhân dân, tăng ngân sách nhà nước, góp phần giữ vững ổn
định chính trị - xã hội của đất nước. Cùng với các thành phần kinh tế khác, sự
phát triển của kinh tế tư nhân đã góp phần giải phóng lực lượng sản xuất.
Tại Đại hội X, Đảng có những khẳng định mới về vai trò của kinh tế tư nhân
khi coi kinh tế tư nhân là bộ phận cấu thành không thể thiếu, có vị trí quan
trọng đặc biệt và ý nghĩa chiến lược trong nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN và cũng là lần đầu tiên, vấn đề đảng viên làm kinh tế tư nhân được Đảng ta
chính thức nêu ra và có quy định cụ thể. Đến Hội nghị Trung ương 3 (khóa X)
đã thông qua “Quy định đảng viên làm kinh tế tư nhân” đã mở đường cho
đảng viên được kinh doanh hợp pháp, cho phép đảng viên làm kinh tế tư nhân
chính là huy động, phát huy tiềm năng của mọi người dân, trong đó có đội ngũ
đảng viên, tạo động lực để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.
Đại hội XI (01/2011) của Đảng tiếp tục xác định phải hoàn thiện cơ chế,
chính sách để phát triển mạnh kinh tế tư nhân trở thành một trong những động
lực của nền kinh tế. Đặc biệt cho đến Đại hội XII (01/2016) điểm mới đáng quan
tâm ở so với các kỳ đại hội trước là Đảng đã khẳng định mạnh mẽ, dứt khoát hơn
khi coi kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế: “Hoàn thiện
cơ chế, chính sách khuyến khích, tạo thuận lợi phát triển mạnh kinh tế tư nhân
ở hầu hết các ngành và lĩnh vực kinh tế, trở thành một động lực quan trọng của
nền kinh tế. Hoàn thiện chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa,
doanh nghiệp khởi nghiệp. Khuyến khích hình thành các tập đoàn kinh tế tư nhân
đa sở hữu và tư nhân góp vốn vào các tập đoàn kinh tế nhà nước”[9].
Khu vực kinh tế tư nhân cả về số lượng, chất lượng,
hiệu quả, bền vững, “Thực sự trở thành một động lực quan trọng trong phát triển
kinh tế. Xoá bỏ mọi rào cản, định kiến, tạo mọi điều kiện thuận lợi để phát triển
kinh tế tư nhân” được Đại hội XIII của
Đảng tiếp tục khẳng định. Đặc biệt là Nghị quyết số
68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân khẳng định:
“Kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất
của nền kinh tế, là lực lượng tiên phong trong phát triển khoa học công nghệ, đổi
mới sáng tạo”.
Sự phát triển nhận thức của Đảng về vai trò của kinh tế tư nhân là quá
trình nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn để ngày càng hoàn thiện chính sách
thúc đẩy kinh tế tư nhân, huy động mọi nguồn lực trong xã hội phục vụ tốt nhất
cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN trong kỷ
nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam./.
KĐK
[1] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc thời kỳ đổi mới (khóa VI, VII, VIII,
IX, X), Phần I, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010, tr.
58.
[2] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc thời kỳ đổi mới (khóa VI, VII, VIII,
IX, X), Phần I, Sđd, tr. 53.
[3] Văn kiện
Đại hội đại biểu toàn quốc thời kỳ đổi mới (khóa VI, VII, VIII, IX, X), Phần
I, Sđd, tr. 333.
[4] Văn
kiện Đại hội đại biểu toàn quốc thời kỳ đổi mới (khóa VI, VII, VIII, IX, X),
Phần I, Sđd, tr. 437 - 438.
[5] Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội,
1991, t. 51, tr. 542 - 543.
[6]Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc thời kỳ đổi mới (khóa VI, VII, VIII,
IX, X), Phần I, Sđd, tr. 622 - 623.
[7] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1991, tr. 11.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét