CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI NGA SOI SÁNG
CON ĐƯỜNG CÁCH MẠNG VIỆT NAM
LSA
Chủ
tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Đi theo con đường do Lênin vĩ đại vạch ra, con
đường của Cách mạng Tháng Mười, nhân dân Việt Nam đã giành được thắng lợi rất
to lớn. Chính vì vậy, mà mối tình gắn bó và lòng biết ơn của nhân dân Việt Nam
đối với Cách mạng Tháng Mười vẻ vang, đối với Lênin vĩ đại, và đối với nhân dân
Liên Xô là vô cùng sâu sắc”[1].
Điều đó khẳng định sự tác động mạnh mẽ, ý nghĩa sâu sắc của Cách mạng Tháng
Mười đối với cách mạng Việt Nam được biểu hiện trên các vấn đề sau:
Thứ
nhất, Cách mạng Tháng Mười đã trực tiếp tác
động đến lý trí và tình cảm cách mạng của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh với tầm
vóc là một lãnh tụ vĩ đại của cách mạng Việt Nam, một chiến sĩ cộng sản có ảnh
hưởng to lớn đối với phong trào cách mạng thế giới. Đối với Nguyễn Ái Quốc,
trên hành trình tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc thì ánh sáng Cách
mạng Tháng Mười là một nhân tố tác động có tính bước ngoặt trong sự chuyển biến
tư tưởng cách mạng ở Người. Điều đó là rất rõ ràng. Bởi, học thuyết cách mạng
của giai cấp vô sản đã ra đời từ giữa thế kỷ XIX, được tiếp nhận, kiểm nghiệm,
bổ sung, phát triển qua thực tiễn đấu tranh cách mạng ngót bảy thập kỷ tiếp
theo, nhưng phải đến khi Cách mạng Tháng Mười bùng nổ, thành công thì tư tưởng
cách mạng vĩ đại đó mới toả sáng tới Nguyễn Ái Quốc và đưa đến sự chuyển biến
có tính quyết định ở Người - từ một người yêu nước chân chính trở thành một
chiến sĩ cộng sản, lãnh tụ vĩ đại của cách mạng Việt Nam, chiến sĩ tiên phong của phong trào giải phóng dân tộc theo con đường
cách mạng vô sản. Đánh giá về Người, đồng chí Gớt Hơn - Tổng bí thư Đảng
Cộng sản Mỹ viết: “Đồng chí Hồ Chí Minh là một lãnh tụ thế giới vào lúc lịch sử
loài người đang ở bước ngoặt có tính cách mạng nhất. Đồng chí là một nhà kiến
trúc và tạo hình làm nên quá trình cách mạng thế giới. Người am hiểu một cách
vô cùng sáng suốt phương hướng và mục tiêu của quá trình đó. Người biết rõ động
lực và sức mạnh của nó. Người biết rõ mối quan hệ lẫn nhau giữa các lực lượng
trong quá trình này. Do đó, đối với Hồ Chí Minh, sự quá độ về chất và có tính
lịch sử từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trong cuộc đấu tranh giải
phóng dân tộc là hai dòng thác của một trào lưu lịch sử - quá trình cách mạng
thế giới, dòng này dẫn tới dòng kia. Người
không quan niệm hai dòng chắn ngang nhau, mà là hai dòng quyện vào nhau, nhập
thành một dòng thác duy nhất là quá trình cách mạng thế giới”[2]. Cách mạng Tháng Mười, và
chủ nghĩa Mác -Lê-nin là nhân tố đưa lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc vượt ra khỏi tầm
vóc là lãnh tụ của quốc gia - dân tộc Việt Nam. Cách mạng Tháng Mười đã trực
tiếp đưa Người trở thành sự hiện thân mang tính biểu tượng của sự kết hợp chặt
chẽ giữa chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế vô sản. Ngọn cờ mà
Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh giương cao đã và tiếp tục tạo nên sức mạnh cách
mạng có tính bùng nổ, đưa lại thắng lợi to lớn của sự nghiệp giải phóng các dân
tộc bị áp bức mà trước chiến tranh thế giới thứ II, dân số của các dân tộc này
chiếm tới 9/10 dân số thế giới.
Thứ
hai, Cách mạng Tháng Mười có ảnh hưởng quyết
định đến sự hình thành, phát triển con đường cách mạng Việt Nam - độc lập dân
tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Sau sự bất lực của hệ tư tưởng phong kiến
đối với nhiệm vụ giải phóng dân tộc, đầu thế kỷ XX trên đất nước ta đã từng
diễn ra phong trào đấu tranh yêu nước, cách mạng theo khuynh hướng dân tộc tư
sản và cùng với nó, một lực lượng cách mạng mới đã dần dần xuất hiện trên vũ
đài chính trị là giai cấp công nhân Việt Nam. Trong những năm 20 của thế kỷ XX,
cuộc chạy đua giành bá quyền lãnh đạo cách mạng giữa khuynh hướng dân tộc tư
sản và khuynh hướng dân tộc vô sản diễn ra quyết liệt. Trong cuộc chạy đua đó,
dòng dân tộc theo khuynh hướng vô sản đã có lợi thế áp đảo. Điều đó không chỉ
bắt nguồn từ thực lực cách mạng của bản thân giai cấp công nhân, tinh thần yêu
nước của nhân dân Việt Nam, mà còn do ánh sáng của Cách mạng Tháng Mười soi
rọi. Trong đêm trường nô lệ bị áp bức, nhân dân Việt Nam hướng về Tổ quốc Xô
Viết - sản phẩm của Cách mạng Tháng Mười với tâm thức là ngọn cờ lý tưởng tốt
đẹp nhất. Tư tưởng và thành quả Cách mạng tháng Mười có sức cổ vũ to lớn, là
một động lực tinh thần có tính quyết định cho sự xác lập con đường dân
tộc vô sản ở Việt Nam. Ánh sáng Cách mạng Tháng Mười và chủ nghĩa Mác -Lê-nin
đã có sức mạnh kỳ diệu đối với tuyệt đại quần chúng, các giai tầng xã hội Việt
Nam. Điều đó là nền móng vững chắc của sự hiện diện một cách kiên định
đường lối độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, trở thành sợi chỉ đỏ
xuyên suốt trong tiến trình cách mạng Việt Nam. Từ năm 1930 cho đến nay, không
phải không có những thế lực nuôi âm mưu và tiến hành chống phá quyết liêt hòng
loại trừ tư tưởng Cách mạng Tháng Mười ra khỏi sự nghiệp đấu tranh cách mạng
của nhân dân ta. Nhưng mọi âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù đều bị thất bại. Nhân dân
Việt Nam vẫn tin tưởng và đi theo ngọn cờ tư tưởng vĩ đại đó ngay cả thời đoạn
xẩy ra biến cố có tính lịch sử là hệ thống xã hội chủ nghĩa bị sụp đổ từ trung
tâm của quê hương Cách mạng Tháng Mười. Điều đó càng khẳng định, tư tưởng vĩ đại của Cách mạng Tháng Mười được
nhân dân ta đón nhận một cách hoàn toàn tự giác, thấm sâu vào máu thịt của mỗi
người cách mạng Việt Nam, không một thế lực nào có thể chia cắt.
Thứ
ba, Cách mạng Tháng Mười đặt tiền đề cho sự
hiện hữu sức mạnh vật chất, tinh thần của Liên bang Xô Viết trong tiến trình
cách mạng Việt Nam, góp phần to lớn vào mọi thắng lợi của nhân dân ta. Có thể
nói một cách khái quát: Thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám, hai cuộc kháng
chiến chống Pháp, chống Mỹ và sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc của nhân dân
Việt Nam nói chung đều thấm một phần trí tuệ, xương máu, công sức của Đảng, Nhà
nước và nhân dân Liên Xô anh em.
Cách
mạng Tháng Tám diễn ra nhanh gọn, ít đổ máu là do nhiều nhân tố tạo nên, trong
đó trước hết phải kể đến sự soi sáng của chính các bài học kinh nghiệm được đúc
kết từ Cách mạng Tháng Mười. Đó là những vấn đề như xây dựng đảng tiền phong,
chuẩn bị thực lực cách mạng, thúc đẩy và lựa chọn thời cơ, nghệ thuật khởi
nghĩa vũ trang, v.v.. Đúng như sự nhìn nhận của Gtitốp - một tướng lĩnh của
Quân đội Xô Viết: “Kinh nghiệm những cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, … trong
đó có Cách mạng Tháng Tám ở Việt Nam là sự chứng minh hùng hồn chân lý của
Lênin về sự lặp lại trên quy mô thế giới những đặc điểm chủ yếu của Cách mạng
Tháng Mười. Những tư tưởng vĩ đại của cách mạng Tháng Mười - đó là những chiếc
đầu máy vĩ đại của lịch sử thế giới”[3].
Không chỉ soi sáng về lý luận, kinh nghiệm, mà việc Liên Xô đã đè bẹp chủ nghĩa
phát xít, trực tiếp đánh bại đạo quân Quan Đông (một triệu tên Nhật ở Trung
Quốc); buộc Chính phủ Nhật phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện là một yếu tố
tạo nên thời cơ “có một không hai” cho thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám của
chúng ta.
Trong
hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Liên Xô đã giành cho Việt Nam sự
ủng hộ to lớn cả vật chất, tinh thần. Đó là sự ủng hộ chí tình và hiệu quả cao.
Đặc biệt, từ năm 1965, khi đế quốc Mỹ thực hiện chiến lược “chiến tranh cục
bộ”, ào ạt đưa quân viễn chinh vào miền Nam, thực hiện chiến tranh phá hoại
miền Bắc, Liên Xô đã chi viện cho chúng ta một khối lượng rất lớn trang bị, vũ
khí kỹ thuật đáp ứng được yêu cầu cuộc kháng chiến. Sự giúp đỡ của Liên
Xô đối với cuộc kháng chiến của ta trở thành phong trào toàn dân, toàn
diện, là “mệnh lệnh của trái tim và trí tuệ”, góp phần làm nên Đại thắng của
dân tộc Việt Nam.
Sau
thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, cách mạng Việt Nam đứng
trước nhiều áp lực với muôn vàn khó khăn mới, Liên Xô vẫn là người đồng chí,
người bạn chí tình tiếp tục giúp đỡ chúng ta với một tình cảm quốc tế vô sản
trong sáng. Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác toàn diện Việt - Xô được ký
ngày 3-11-1978 và việc Liên Xô thực hiện rất nghiêm túc các điều khoản cam kết
đã tiếp sức cho nhân dân ta vượt qua những thử thách cực kỳ nghiêm trọng mà
trước đó ta chưa lường hết được.
Sau khi Liên Xô giải thể (năm 1991), trong những năm đầu thập
niên 90 của thế kỷ XX, quan hệ Việt Nam - Nga bị suy giảm mạnh trên tất cả các
lĩnh vực. Song tình hình đã thay đổi vào giữa những năm 90 của thế kỷ XX, trước
hết nhờ những điều chỉnh trong chính sách đối ngoại của Nga và những thành
công trong sự nghiệp đổi mới toàn diện của Việt Nam. Lãnh đạo các cấp của hai
nước nhận thức được tính cấp bách của việc khôi phục mối quan hệ hợp tác truyền
thống, trong đó trước hết là tạo dựng một khuôn khổ, một nền tảng pháp lý mới
cho quan hệ Việt Nam - Nga. Hiệp ước về những nguyên tắc cơ bản của quan hệ hữu
nghị giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên bang Nga” đã
được hai nước ký kết ngày 16-6-1994. Đây là văn bản pháp lý thay thế Hiệp ước
hữu nghị và hợp tác giữa Liên Xô và Việt Nam ký kết năm 1978, xác định các
nguyên tắc mới cho quan hệ Việt Nam - Nga, đó là: Tôn trọng chủ quyền quốc gia,
độc lập và toàn vẹn lãnh thổ; không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau;
bình đẳng và cùng có lợi. Tổng thống Nga Vladimir Putin khẳng định: “Văn kiện
mang tính chiến lược này đã mở ra những cơ hội to lớn để củng cố và phát triển
tổng thể quan hệ song phương. Trong giai đoạn lịch sử mới, nó đã tạo xung lực
mạnh mẽ để quan hệ Nga - Việt phát triển ngày càng năng động”. Trên thực tế kể
từ thời điểm mang tính bước ngoặt lịch sử này, quan hệ hợp tác Việt Nam - Nga
bắt đầu tiến triển tích cực.
Như vậy, mặc dù còn một số khó khăn, hạn
chế, song lịch sử quan hệ Việt Nam - Nga trong 75 năm qua cho thấy những bước
tiến về chất của mối quan hệ này, mà sợi chỉ đỏ xuyên suốt là tình hữu nghị lâu
đời. Đây chính là tài sản chung quý báu của hai đất nước, hai dân tộc Việt Nam
- Liên Bang Nga. Chính vì vậy, cả hai
nước đều trân trọng mối quan hệ đã được nhiều thế hệ lãnh đạo và nhân dân hai
nước đặt nền móng và dày công vun đắp. Đây chính là nền tảng để quan hệ Đối tác
chiến lược toàn diện Việt Nam - Nga tiếp tục phát triển mạnh mẽ hơn nữa. Tuyên
bố chung Việt Nam - Nga một lần nữa khẳng định: “Việc củng cố và nâng cao hiệu
quả quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện là một trong những ưu tiên đối ngoại
của Việt Nam và Nga, đáp ứng lợi ích lâu dài, góp phần vào sự phát triển của
mỗi nước, cũng như nâng cao vai trò của hai quốc gia tại mỗi khu vực và trên
thế giới”. Chúng ta hoàn toàn có cơ sở để tin tưởng rằng, các nguyên tắc và
định hướng quan hệ hợp tác được nêu trong bản Tuyên bố chung này sẽ được tuân
thủ và thực thi hiệu quả, đưa quan hệ Việt Nam - Nga phát triển thật sự tương
xứng với bản chất mối quan hệ đối tác chiến lược toàn diện, góp phần xứng đáng
vào việc thực hiện mục tiêu hòa bình, an ninh và phát triển của mỗi nước.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét