Thứ Tư, 17 tháng 9, 2025

 

CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI NGA SOI SÁNG

CON ĐƯỜNG CÁCH MẠNG VIỆT NAM

                                                                                                        LSA

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Đi theo con đường do Lênin vĩ đại vạch ra, con đường của Cách mạng Tháng Mười, nhân dân Việt Nam đã giành được thắng lợi rất to lớn. Chính vì vậy, mà mối tình gắn bó và lòng biết ơn của nhân dân Việt Nam đối với Cách mạng Tháng Mười vẻ vang, đối với Lênin vĩ đại, và đối với nhân dân Liên Xô là vô cùng sâu sắc”[1]. Điều đó khẳng định sự tác động mạnh mẽ, ý nghĩa sâu sắc của Cách mạng Tháng Mười đối với cách mạng Việt Nam được biểu hiện trên các vấn đề sau:

Thứ nhất, Cách mạng Tháng Mười đã trực tiếp tác động đến lý trí và tình cảm cách mạng của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh với tầm vóc là một lãnh tụ vĩ đại của cách mạng Việt Nam, một chiến sĩ cộng sản có ảnh hưởng to lớn đối với phong trào cách mạng thế giới. Đối với Nguyễn Ái Quốc, trên hành trình tìm  đường cứu nước, giải phóng dân tộc thì ánh sáng Cách mạng Tháng Mười là một nhân tố tác động có tính bước ngoặt trong sự chuyển biến tư tưởng cách mạng ở Người. Điều đó là rất rõ ràng. Bởi, học thuyết cách mạng của giai cấp vô sản đã ra đời từ giữa thế kỷ XIX, được tiếp nhận, kiểm nghiệm, bổ sung, phát triển qua thực tiễn đấu tranh cách mạng ngót bảy thập kỷ tiếp theo, nhưng phải đến khi Cách mạng Tháng Mười bùng nổ, thành công thì tư tưởng cách mạng vĩ đại đó mới toả sáng tới Nguyễn Ái Quốc và đưa đến sự chuyển biến có tính quyết định ở Người - từ một người yêu nước chân chính trở thành một chiến sĩ cộng sản, lãnh tụ vĩ đại của cách mạng Việt Nam, chiến sĩ tiên phong của phong trào giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản. Đánh giá về Người, đồng chí Gớt Hơn - Tổng bí thư Đảng Cộng sản Mỹ viết: “Đồng chí Hồ Chí Minh là một lãnh tụ thế giới vào lúc lịch sử loài người đang ở bước ngoặt có tính cách mạng nhất. Đồng chí là một nhà kiến trúc và tạo hình làm nên quá trình cách mạng thế giới. Người am hiểu một cách vô cùng sáng suốt phương hướng và mục tiêu của quá trình đó. Người biết rõ động lực và sức mạnh của nó. Người biết rõ mối quan hệ lẫn nhau giữa các lực lượng trong quá trình này. Do đó, đối với Hồ Chí Minh, sự quá độ về chất và có tính lịch sử từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc là hai dòng thác của một trào lưu lịch sử - quá trình cách mạng thế giới, dòng này dẫn tới dòng kia. Người không quan niệm hai dòng chắn ngang nhau, mà là hai dòng quyện vào nhau, nhập thành một dòng thác duy nhất là quá trình cách mạng thế giới”[2]. Cách mạng Tháng Mười, và chủ nghĩa Mác -Lê-nin là nhân tố đưa lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc vượt ra khỏi tầm vóc là lãnh tụ của quốc gia - dân tộc Việt Nam. Cách mạng Tháng Mười đã trực tiếp đưa Người trở thành sự hiện thân mang tính biểu tượng của sự kết hợp chặt chẽ giữa chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế vô sản. Ngọn cờ mà Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh giương cao đã và tiếp tục tạo nên sức mạnh cách mạng có tính bùng nổ, đưa lại thắng lợi to lớn của sự nghiệp giải phóng các dân tộc bị áp bức mà trước chiến tranh thế giới thứ II, dân số của các dân tộc này chiếm tới 9/10 dân số thế giới.

Thứ hai, Cách mạng Tháng Mười có ảnh hưởng quyết định đến sự hình thành, phát triển con đường cách mạng Việt Nam - độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Sau sự bất lực của hệ tư tưởng phong kiến đối với nhiệm vụ giải phóng dân tộc, đầu thế kỷ XX trên đất nước ta đã từng diễn ra phong trào đấu tranh yêu nước, cách mạng theo khuynh hướng dân tộc tư sản và cùng với nó, một lực lượng cách mạng mới đã dần dần xuất hiện trên vũ đài chính trị là giai cấp công nhân Việt Nam. Trong những năm 20 của thế kỷ XX, cuộc chạy đua giành bá quyền lãnh đạo cách mạng giữa khuynh hướng dân tộc tư sản và khuynh hướng dân tộc vô sản diễn ra quyết liệt. Trong cuộc chạy đua đó, dòng dân tộc theo khuynh hướng vô sản đã có lợi thế áp đảo. Điều đó không chỉ bắt nguồn từ thực lực cách mạng của bản thân giai cấp công nhân, tinh thần yêu nước của nhân dân Việt Nam, mà còn do ánh sáng của Cách mạng Tháng Mười soi rọi. Trong đêm trường nô lệ bị áp bức, nhân dân Việt Nam hướng về Tổ quốc Xô Viết - sản phẩm của Cách mạng Tháng Mười với tâm thức là ngọn cờ lý tưởng tốt đẹp nhất. Tư tưởng và thành quả Cách mạng tháng Mười có sức cổ vũ to lớn, là một động lực tinh thần có tính quyết định cho sự xác lập con đường dân tộc vô sản ở Việt Nam. Ánh sáng Cách mạng Tháng Mười và chủ nghĩa Mác -Lê-nin đã có sức mạnh kỳ diệu đối với tuyệt đại quần chúng, các giai tầng xã hội Việt Nam. Điều đó là nền móng vững chắc của sự hiện diện một cách kiên định đường lối độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong tiến trình cách mạng Việt Nam. Từ năm 1930 cho đến nay, không phải không có những thế lực nuôi âm mưu và tiến hành chống phá quyết liêt hòng loại trừ tư tưởng Cách mạng Tháng Mười ra khỏi sự nghiệp đấu tranh cách mạng của nhân dân ta. Nhưng mọi âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù đều bị thất bại. Nhân dân Việt Nam vẫn tin tưởng và đi theo ngọn cờ tư tưởng vĩ đại đó ngay cả thời đoạn xẩy ra biến cố có tính lịch sử là hệ thống xã hội chủ nghĩa bị sụp đổ từ trung tâm của quê hương Cách mạng Tháng Mười. Điều đó càng khẳng định, tư tưởng vĩ đại của Cách mạng Tháng Mười được nhân dân ta đón nhận một cách hoàn toàn tự giác, thấm sâu vào máu thịt của mỗi người cách mạng Việt Nam, không một thế lực nào có thể chia cắt.

Thứ ba, Cách mạng Tháng Mười đặt tiền đề cho sự hiện hữu sức mạnh vật chất, tinh thần của Liên bang Xô Viết trong tiến trình cách mạng Việt Nam, góp phần to lớn vào mọi thắng lợi của nhân dân ta. Có thể nói một cách khái quát: Thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám, hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc của nhân dân Việt Nam nói chung đều thấm một phần trí tuệ, xương máu, công sức của Đảng, Nhà nước và nhân dân Liên Xô anh em.

Cách mạng Tháng Tám diễn ra nhanh gọn, ít đổ máu là do nhiều nhân tố tạo nên, trong đó trước hết phải kể đến sự soi sáng của chính các bài học kinh nghiệm được đúc kết từ Cách mạng Tháng Mười. Đó là những vấn đề như xây dựng đảng tiền phong, chuẩn bị thực lực cách mạng, thúc đẩy và lựa chọn thời cơ, nghệ thuật khởi nghĩa vũ trang, v.v.. Đúng như sự nhìn nhận của Gtitốp - một tướng lĩnh của Quân đội Xô Viết: “Kinh nghiệm những cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, … trong đó có Cách mạng Tháng Tám ở Việt Nam là sự chứng minh hùng hồn chân lý của Lênin về sự lặp lại trên quy mô thế giới những đặc điểm chủ yếu của Cách mạng Tháng Mười. Những tư tưởng vĩ đại của cách mạng Tháng Mười - đó là những chiếc đầu máy vĩ đại của lịch sử thế giới”[3]. Không chỉ soi sáng về lý luận, kinh nghiệm, mà việc Liên Xô đã đè bẹp chủ nghĩa phát xít, trực tiếp đánh bại đạo quân Quan Đông (một triệu tên Nhật ở Trung Quốc); buộc Chính phủ Nhật phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện là một yếu tố tạo nên thời cơ “có một không hai” cho thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám của chúng ta.

Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Liên Xô đã giành cho Việt Nam sự ủng hộ to lớn cả vật chất, tinh thần. Đó là sự ủng hộ chí tình và hiệu quả cao. Đặc biệt, từ năm 1965, khi đế quốc Mỹ thực hiện chiến lược “chiến tranh cục bộ”, ào ạt đưa quân viễn chinh vào miền Nam, thực hiện chiến tranh phá hoại miền Bắc, Liên Xô đã chi viện cho chúng ta một khối lượng rất lớn trang bị, vũ khí kỹ thuật đáp ứng được yêu cầu cuộc kháng chiến. Sự giúp đỡ của Liên Xô  đối với cuộc kháng chiến của ta trở thành phong trào toàn dân, toàn diện, là “mệnh lệnh của trái tim và trí tuệ”, góp phần làm nên Đại thắng của dân tộc Việt Nam.

Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, cách mạng Việt Nam đứng trước nhiều áp lực với muôn vàn khó khăn mới, Liên Xô vẫn là người đồng chí, người bạn chí tình tiếp tục giúp đỡ chúng ta với một tình cảm quốc tế vô sản trong sáng. Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác toàn diện Việt - Xô được ký ngày 3-11-1978 và việc Liên Xô thực hiện rất nghiêm túc các điều khoản cam kết đã tiếp sức cho nhân dân ta vượt qua những thử thách cực kỳ nghiêm trọng mà trước đó ta chưa lường hết được.

Sau khi Liên Xô giải thể (năm 1991), trong những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, quan hệ Việt Nam - Nga bị suy giảm mạnh trên tất cả các lĩnh vực. Song tình hình đã thay đổi vào giữa những năm 90 của thế kỷ XX, trước hết nhờ những điều chỉnh trong chính sách đối ngoại của Nga và những thành công trong sự nghiệp đổi mới toàn diện của Việt Nam. Lãnh đạo các cấp của hai nước nhận thức được tính cấp bách của việc khôi phục mối quan hệ hợp tác truyền thống, trong đó trước hết là tạo dựng một khuôn khổ, một nền tảng pháp lý mới cho quan hệ Việt Nam - Nga. Hiệp ước về những nguyên tắc cơ bản của quan hệ hữu nghị giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên bang Nga” đã được hai nước ký kết ngày 16-6-1994. Đây là văn bản pháp lý thay thế Hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa Liên Xô và Việt Nam ký kết năm 1978, xác định các nguyên tắc mới cho quan hệ Việt Nam - Nga, đó là: Tôn trọng chủ quyền quốc gia, độc lập và toàn vẹn lãnh thổ; không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; bình đẳng và cùng có lợi. Tổng thống Nga Vladimir Putin khẳng định: “Văn kiện mang tính chiến lược này đã mở ra những cơ hội to lớn để củng cố và phát triển tổng thể quan hệ song phương. Trong giai đoạn lịch sử mới, nó đã tạo xung lực mạnh mẽ để quan hệ Nga - Việt phát triển ngày càng năng động”. Trên thực tế kể từ thời điểm mang tính bước ngoặt lịch sử này, quan hệ hợp tác Việt Nam - Nga bắt đầu tiến triển tích cực.

Như vậy, mặc dù còn một số khó khăn, hạn chế, song lịch sử quan hệ Việt Nam - Nga trong 75 năm qua cho thấy những bước tiến về chất của mối quan hệ này, mà sợi chỉ đỏ xuyên suốt là tình hữu nghị lâu đời. Đây chính là tài sản chung quý báu của hai đất nước, hai dân tộc Việt Nam -  Liên Bang Nga. Chính vì vậy, cả hai nước đều trân trọng mối quan hệ đã được nhiều thế hệ lãnh đạo và nhân dân hai nước đặt nền móng và dày công vun đắp. Đây chính là nền tảng để quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Nga tiếp tục phát triển mạnh mẽ hơn nữa. Tuyên bố chung Việt Nam - Nga một lần nữa khẳng định: “Việc củng cố và nâng cao hiệu quả quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện là một trong những ưu tiên đối ngoại của Việt Nam và Nga, đáp ứng lợi ích lâu dài, góp phần vào sự phát triển của mỗi nước, cũng như nâng cao vai trò của hai quốc gia tại mỗi khu vực và trên thế giới”. Chúng ta hoàn toàn có cơ sở để tin tưởng rằng, các nguyên tắc và định hướng quan hệ hợp tác được nêu trong bản Tuyên bố chung này sẽ được tuân thủ và thực thi hiệu quả, đưa quan hệ Việt Nam - Nga phát triển thật sự tương xứng với bản chất mối quan hệ đối tác chiến lược toàn diện, góp phần xứng đáng vào việc thực hiện mục tiêu hòa bình, an ninh và phát triển của mỗi nước.



[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 15, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.397.

[2] Báo Nhân dân, Số ra ngày 12-9-1969.

 

[3] Báo Nhân dân, Số ra ngày 03-11-1982.

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét