ĐIỆN BIÊN PHỦ TRÊN KHÔNG - NHÌN THẤU ÂM MƯU ĐỊCH,
CHUẨN BỊ ĐÒN GIÁNG TRẢ
Bàn Luận
Cho
đến tháng 10-1972, cuộc tiến công chiến lược của quân, dân ta ở miền Nam đã diễn ra hơn nửa năm và giành được một
số thắng lợi to lớn, làm thay đổi cục diện chiến trường. Trên miền Bắc, kể từ
tháng 4-1972, quân, dân ta đã đánh bại một bước quan trọng cuộc chiến tranh phá
hoại lần thứ hai của không quân và hải quân Mỹ; không ngừng tăng cường sức
người, sức của vào tiền tuyến lớn, cùng quân, dân miền Nam phát triển cuộc tiến
công chiến lược. Tại Paris, cuộc đàm phán giữa ta và Mỹ kéo dài đã bốn năm.
Ngày 8-10-1972, Chính phủ ta đưa ra bản dự thảo Hiệp định về chấm dứt chiến
tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Hai bên đã thỏa thuận hầu hết các nội dung
trong văn kiện, ấn định ngày 20-10-1972 sẽ ký tắt tại Hà Nội và ngày 31-10-1972
sẽ ký chính thức tại Paris. Nhưng chính quyền Nixon cố tình dây dưa, muốn đợi
qua cuộc bầu cử tổng thống, đồng thời chuẩn bị bước phiêu lưu quân sự mới, nhằm
giành lại thế mạnh cả về quân sự và ngoại giao, ép ta phải nhân nhượng theo
những điều kiện có lợi cho Mỹ.
Phân
tích những âm mưu và hành động của đối phương, Bộ Chính trị nhận định, Mỹ sẽ
đánh phá trở lại miền Bắc với mức độ ác liệt hơn, có nhiều khả năng, chúng sẽ
dùng máy bay B52 đánh ồ ạt Hà Nội, Hải Phòng... Nhiệm vụ của Quân chủng Phòng
không - Không quân là tập trung mọi khả năng, nhắm trúng máy bay B52 mà tiêu
diệt. Kế hoạch chuẩn bị đánh trả và phòng tránh máy bay B52 được quân và dân ta
triển khai khẩn trương, tích cực, chủ động, kiên quyết; trong đó, lực lượng
nòng cốt là quân chủng Phòng không - Không quân.
Thực
tế là, không phải đến cuối năm 1972, mà ngay từ 7 năm trước đó - năm 1965, khi
đế quốc Mỹ đưa quân vào miền Nam, tiến hành “chiến tranh cục bộ” và
bắt đầu sử dụng lực lượng ném bom chiến lược B52 trên chiến trường, trong một
lần đến thăm bộ đội phòng không Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dặn: “Dù đế
quốc Mỹ có lắm súng, nhiều tiền, dù chúng có B57, B52 hay “bê” gì đi chăng nữa,
ta cũng đánh. Từng ấy máy bay, từng ấy quân Mỹ, chứ nhiều hơn nữa, ta cũng
đánh, mà đã đánh là nhất định thắng”.
Để
chuẩn bị đánh B52, trước tiên là phải tìm hiểu tính năng, kỹ thuật, đặc điểm và
quy luật hoạt động của nó, trên cơ sở đó, tìm ra cách đánh phù hợp. Nhằm thực
hiện đầy đủ mục đích trên, đồng thời, chấp hành chỉ thị của Bộ Tổng tham mưu,
tháng 5-1966, Quân chủng Phòng không - Không quân đã tổ chức cho trung đoàn tên
lửa 238 cơ động vào Vĩnh Linh, nghiên cứu cách đánh B52. Ngày 17-9-1967, tại
trận địa T5, Nông trường Quyết Thắng (Vĩnh Linh), tiểu đoàn 84, trung đoàn 238
đã bắn rơi chiếc máy bay B52 đầu tiên. Từ đó, chúng ta luôn luôn duy trì một
lực lượng ở chiến trường để đánh B52, với phương châm là vừa đánh địch, vừa
nghiên cứu địch.
Cuối
năm 1967, khi làm việc với Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân, Chủ
tịch Hồ Chí Minh tiếp tục khẳng định: “Sớm muộn rồi đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B52
ra đánh Hà Nội, rồi có thua nó mới chịu thua. Phải dự kiến trước mọi tình
huống, càng sớm càng tốt, để có thời gian mà suy nghĩ, chuẩn bị. Nhớ là trước
khi thua ở Triều Tiên, đế quốc Mỹ đã hủy diệt Bình Nhưỡng. Ở Việt Nam, Mỹ sẽ
nhất định thua, nhưng nó chỉ chịu thua trên bầu trời Hà Nội”.
Thực
hiện sự chỉ đạo của cấp trên, đặc biệt là sự nhắc nhở thường xuyên của Chủ tịch
Hồ Chí Minh, từ đầu năm 1968, Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân
bắt tay vào xây dựng kế hoạch đánh trả một cuộc tập kích đường không chiến lược
bằng máy bay B52 của đế quốc Mỹ vào Hà Nội trong vòng 5 năm tới. Có thể nói,
đây là một bản kế hoạch rất độc đáo trong nghệ thuật quân sự Việt Nam. Bởi lẽ,
lúc bấy giờ, ngay cả phía Mỹ cũng chưa có chút manh nha gì về kế hoạch tiến
công ồ ạt miền Bắc bằng máy bay B52. Lúc đầu, tuy còn sơ lược, nhưng qua chiến
đấu thực tiễn và từng bước rút kinh nghiệm, bản kế hoạch được hoàn chỉnh dần.
Đáng chú ý nhất là cuốn sách cẩm nang bìa đỏ mang tên “Cách đánh B52” của bộ đội tên lửa. Tuy chỉ có 30 trang
đánh máy, nhưng đó là sự tổng hợp, đúc kết kinh nghiệm trong quá trình gần 7
năm chiến đấu với B52 và các thủ đoạn của không quân Mỹ, nhất là những kinh
nghiệm và phương pháp mới nhất, được rút ra sau trận tập kích ngày 16-4-1972
bằng B52 của địch vào Hà Nội và Hải Phòng.
Những
phương pháp đánh B52 trong cuốn cẩm nang đó đã được quân chủng phổ biến tỉ mỉ cho
từng kíp chiến đấu. Bởi thế, sau này bước vào chiến dịch, bộ đội tên lửa của ta
đã bình tĩnh, tự tin, bẻ gãy các đợt tiến công của không quân Mỹ. Thậm chí, có
những đơn vị chưa từng chạm trán với máy bay B52, như trung đoàn tên lửa 257 và
trung đoàn tên lửa 261, nhưng từ kinh nghiệm và phương cách trong cuốn
sách “Cách đánh B52”, các trung đoàn đó đã bắn rơi 24 máy
bay B52, trong đó có 16 chiếc rơi tại chỗ.
Như
đã nêu ở trên, lúc đầu bản kế hoạch tuy còn sơ lược nhưng ít nhiều quân ta cũng
đã dự đoán được các hướng tiến công chủ yếu của địch. Đối với Hà Nội, các nhà
lập kế hoạch quân sự đã phán đoán máy bay B52 sẽ bay vào theo 5 hướng chủ yếu
là từ Tây Bắc và Đông Bắc xuống, từ Tây Nam vào, từ Nam và Đông Nam lên. Thực
tế sau này, trong 12 ngày đêm đánh phá Hà Nội, 70% số máy bay địch đều lợi dụng
địa hình địa vật và từ hướng Tây Bắc đi xuống. Phán đoán chính xác hướng tiến
công, nhất là hướng tiến công chủ yếu, đã giúp ta có biện pháp sử dụng các lực
lượng hợp lý. Có như vậy, việc dàn thế trận mới đạt tới độ hiểm hóc để đánh
thắng địch.
Đúng
như ta phán đoán, ngày 17-12-1972, Tổng thống Mỹ Nixon đã ra lệnh mở cuộc tập
kích chiến lược đường không bằng máy bay B52, mang tên Linebacker II vào Hà Nội
và Hải Phòng.
Vào
hồi 19 giờ 20 phút ngày 18-12-1972, ra đa của ta phát hiện máy bay B52 của địch
bay vào vùng trời miền Bắc. Được chuẩn bị chu đáo từ trước đó, một lực lượng
lớn đã tham gia chiến dịch với 6 trung đoàn tên lửa phòng không (SAM-2), 3
trung đoàn không quân tiêm kích, 4 trung đoàn và 8 tiểu đoàn pháo cao xạ, 356
đơn vị pháo, súng máy cao xạ, toàn mạng ra đa và các lực lượng phục vụ khác.
Không quân ta đón đánh địch ở vòng ngoài. Bộ đội cao xạ và lưới lửa tầm thấp
của dân quân tự vệ hất máy bay chiến thuật của địch lên cao. Ra đa, tên lửa,
vừa khắc phục các loại nhiễu, vừa phát sóng, bắt mục tiêu B52 và phóng đạn tiêu
diệt.
Với
thái độ ngạo mạn và coi thường, chính quyền Mỹ cho rằng, cùng với tàu ngầm
nguyên tử, tên lửa vượt đại châu mang đầu đạn hạt nhân và những loại vũ khí
chiến lược như siêu pháo đài bay B52, có thể ép được Chính phủ nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa ký Hiệp định Paris theo những điều khoản có lợi cho Mỹ. Nhưng
trái lại, chỉ sau ba ngày Mỹ mở cuộc tập kích đường không chiến lược, đã có tới
12 máy bay B52 bị bắn rơi. Và “nếu B52 cứ rơi với tốc độ này thì sau hai tuần
lễ sẽ không còn máy bay ở Đông Nam Á để chiến đấu nữa”(3). Điều dự
kiến đó không phải là thiếu căn cứ. Bởi trước đó bảy tháng, từ tháng 5-1972,
Đại tướng Võ Nguyên Giáp và các cán bộ tham mưu tác chiến của Quân chủng Phòng
không - Không quân đã đặt vấn đề: “Tỷ lệ B52 bị bắn rơi ở mức độ nào thì Nhà
Trắng rung chuyển? Mức độ nào thì Mỹ không chịu nổi, phải thua?”. Sau mấy tuần
lễ, câu trả lời đã được đưa ra: N1: Tỷ lệ chịu đựng
được là 1 - 2% (trên tổng số B52 tham chiến của Mỹ); N2: Tỷ lệ Nhà Trắng rung chuyển là 6 - 7%; N3: Tỷ lệ buộc Mỹ phải thua cuộc là trên 10%.
Quân
chủng Phòng không - Không quân loại trừ N1, quyết tâm đạt N2 và vươn tới N3. Không những thế, trên thực tế chiến trường, bộ đội ta
còn thực hiện vượt mức chỉ tiêu N3. Trong 12 ngày
đêm cuối tháng 12-1972, tỷ lệ B52 bị bắn rơi là 17,6% (34/147 chiếc, trong đó
Hà Nội góp công 23 chiếc).
Cuộc
tập kích chiến lược quy mô lớn nhất bằng máy bay B52 của Mỹ vào Hà Nội, Hải
Phòng đã hoàn toàn bị đánh bại. Trong 12 ngày đêm, địch đã xuất kích 663
lần/chiếc máy bay chiến lược B52 và hơn 3.800 lần/chiếc máy bay chiến thuật các
loại.
Đây
là lần đầu tiên, quân và dân ta tổ chức và thực hành thắng lợi một chiến dịch
phòng không - một loại hình chiến dịch của chiến tranh hiện đại - đánh bại cuộc
tập kích chiến lược đường không của địch, một chiến dịch phòng không độc nhất
trong 30 năm chiến tranh giải phóng. Ta đã bắn rơi 81 máy bay, trong đó có 34
máy bay B52 và 5 máy bay F111, giáng đòn quyết định vào cố gắng cuối cùng -
đồng thời là cố gắng cao nhất của Mỹ trong năm 1972, và cũng là trong toàn bộ
cuộc chiến tranh xâm lược, buộc chính quyền Nixon phải ký Hiệp định Paris, chấm
dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.
Với
lý do thất bại nặng nề như vậy, đúng 7 giờ ngày 30-12-1972, Chính phủ Hoa Kỳ
buộc phải tuyên bố ngừng ném bom từ bắc vĩ tuyến 20 trở ra và đề nghị gặp đại
biểu Chính phủ ta tại Paris, bàn việc ký kết Hiệp định.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét