CHIẾN DỊCH LINEBACKER II CỦA MỸ
Trung Lập
Chiến dịch Linebacker II là
chiến dịch quân sự cuối cùng của Hoa Kỳ chống
lại Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trong Chiến tranh Việt Nam, từ 18 tháng 12 đến 30 tháng 12 năm 1972 sau khi Hội nghị Paris bế tắc và đổ vỡ do hai
phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mỹ bất đồng về các điều khoản trong hiệp
định.
Chiến dịch
này là sự nối tiếp của chiến dịch ném bom Linebacker diễn ra
từ tháng 5 đến tháng 10 năm 1972, ngoại trừ điểm khác biệt lớn là lần này Hoa
Kỳ sẽ tấn công dồn dập bằng máy bay ném bom chiến lược B-52 thay vì các máy bay ném bom chiến thuật, mục đích là
dùng sức mạnh và biện pháp không hạn chế đánh thẳng vào các trung tâm đầu não
của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Tại chiến dịch này, Hoa Kỳ đã huy động
loại máy bay ném bom chiến lược mạnh nhất
của họ là pháo đài bay B-52 làm nòng cốt để ném
bom rải thảm huỷ diệt xuống Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên, Lạng Sơn và
các mục tiêu khác liên tục trong 12 ngày đêm. Đây là những cuộc ném bom dữ dội
nhất trong Chiến tranh Việt Nam và là một trong những cuộc tập kích có cường độ
cao nhất trong lịch sử các cuộc chiến tranh.
Trong 12 ngày, Mỹ đã thả hơn 36.000 tấn bom, vượt quá khối lượng bom đã ném
xuống miền Bắc Việt Nam trong toàn bộ thời kì từ 1969 đến 1971.
Cuộc ném
bom tuy có gây những tổn thất nặng về cơ sở vật chất cho phía Việt Nam Dân chủ
Cộng hoà nhưng đã không làm thay đổi được lập trường của lãnh đạo nước này về
nội dung cơ bản của hiệp định hoà bình, đồng thời nó gây một làn sóng bất bình
lớn của người Mỹ, dư luận và chính giới của các nước trên thế giới trong đó có
cả các đồng minh lâu dài của Hoa Kỳ, uy tín của Chính phủ Hoa kỳ bị xuống thấp nghiêm
trọng. Bị phản đối trong nước, bị cô lập trên trường quốc tế, gặp phải sự chống
trả hiệu quả gây thiệt hại lớn cho lực lượng không quân chiến lược, lại không
thể buộc đối phương thay đổi lập trường, Tổng thống Richard Nixon đã
phải ra lệnh chấm dứt chiến dịch vào ngày 30 tháng 12, đề nghị nối lại đàm phán
tại Paris.
Tại đây, Hoa Kỳ chấp nhận ký kết Hiệp định Paris trên cơ sở dự thảo mà
trước đó họ đã từ chối ký kết (vì đây là dự thảo có những điều khoản có lợi cho
Việt Nam Dân chủ Cộng hoà). Sau chiến dịch ném bom khí thế, lòng tự hào trong
Quân đội nhân dân Việt Nam và người dân tại miền Bắc Việt Nam lên rất cao: họ
không chỉ đánh thắng được "thần tượng B-52" mà còn buộc Hoa Kỳ phải
ký Hiệp định Paris với những nội dung có
lợi cho họ, đó là những cơ sở để phía Việt Nam Dân chủ Cộng hoà coi chiến dịch
này là một thắng lợi chiến lược to lớn.
Chiến dịch
này còn có một ý nghĩa tâm lý nặng nề cho giới quân sự Hoa Kỳ: đây là chiến
dịch mà phía Mỹ đã chủ động lựa chọn mục tiêu, thời điểm, phương thức chiến đấu
và đặc biệt là sử dụng sở trường của mình để chống lại sở đoản của đối phương
(trình độ khoa học công nghệ), một cuộc đấu mà đối phương sẽ không thể sử dụng
yếu tố "du kích" – một cách hình tượng: phía Mỹ thách đấu và
được quyền lựa chọn vũ khí và đã thất bại.
Chiến dịch
này cũng cho thấy điểm yếu của vũ khí máy bay ném bom chiến lược của Hoa
Kỳ: B-52 vũ
khí chiến lược dùng để chống chọi đối thủ tiềm tàng xứng tầm là Liên Xô cho
một cuộc chiến tranh công nghệ cao đã
thể hiện điểm yếu ngay khi đối phương có trình độ kinh tế, quân sự,
khoa học – công nghệ kém hơn nhiều, và vũ khí chống trả cũng không phải là
loại cao cấp của đối phương (vào thời điểm 1972, tên lửa SAM-2 mà
Việt Nam sử dụng đã bị Liên Xô thay thế bằng SAM-4 và SAM-5 mạnh hơn nhiều). Ngay sau Chiến
tranh Việt Nam, vì lý do này Hoa Kỳ đã phải nỗ lực rất cao trong chạy đua vũ
trang trong lĩnh vực máy bay ném bom và đã cho ra kết quả là các máy bay ném
bom B-1 Lancer và B-2 Spirit tàng hình.
Ở Việt Nam
sự kiện này thường được gọi là "12
ngày đêm" và báo chí, truyền thông hay dùng hình tượng "Điện Biên Phủ trên không" để nhấn
mạnh ý nghĩa thắng lợi chiến lược to lớn của sự kiện. Tên gọi này xuất phát từ
lời tuyên dương của đại tướng Võ Nguyên Giáp dành cho các đơn vị lập
công vào ngày 26/12/1972.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét